CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG XE Ô TÔ 1. Khái quát quản lý nhà nước 1. Khái niệm quản lý Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Quản lý có các vai trò sau: + Quản lý nhằm tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức, bao gồm các thành viên của tổ chức, giữa những người bị quản lý với nhau và giữa những người bị quản lý và người quản lý.
+ Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, của tổ chức vào mục tiêu chung. Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả. + Tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt mục tiêu quản lý. + Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, đánh giá, khen thưởng những người có công; uốn nắn những lệch lạc, sai sót của cá nhân trong tổ chức nhằm giảm bớt những sai lệch trong quá trình quản lý.
Từ khái niệm và vai trò của quản lý, có thể mô phỏng quan hệ chủ thể quản lý - đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý như Chủ thể quản lý Xác định Nghệ thuật Khoa học quản lý Công cụ quản lý quản lý Mục tiêu quản lý Thực hiện Đối tượng quản lý Hình 1. Mô phỏng quan hệ quản lý 6 1. Tổng quan về quản lý Nhà nước a. Khái niệm quản lý Nhà nước Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Pháp Đảm bảo chế Kết hợp sự lãnh theo đạo của ngành và Đảng lãnh thổ Các nguyên tắc quản lý Nhà nước Tập Công trung khai, dân chủ Kế hoạch minh hoá bạch Hình 1. Các nguyên tắc quản lý Nhà nước 1. Tổng quan về vận tải hành khách bằng ô tô 1. Tổng quan về vận tải hành khách a.
Khái niệm Vận tải là quá trình di chuyển hay thay đổi vị trí của hàng hóa, hành khách trong không gian, theo thời gian cụ thể nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu đi lại thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Thay đổi về số lượng là sự gia tăng về nhu cầu đi lại của người dân. Thay đổi về chất lượng là yêu cầu đảm bảo về mặt an toàn, tiện nghi và sự thỏa mái, nhanh chóng.
Tính xã hội của VTHK rất cao vì sự thay đổi giá cước, thời gian vận tải sẽ tác động trực tiếp đến người tiêu dùng (hành khách). Chi phí chuyến đi của hành khách thể hiện ở hai mặt: thời gian chuyến đi và giá vé phải trả. Các yêu cầu của vận tải hành khách 7 Vận tải hành khách là ngành sản xuất vật chất đặc biệt mang tính phục vụ (dịch vụ), để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách của xã hội thì vận tải cần thỏa mãn các yêu cầu sau: + Vận chuyển an toàn. Trong VTHK, yêu cầu an toàn là đảm bảo tiện nghi gần với sinh hoạt bình thường của hành khách, tức bảo đảm chỗ ngồi hoặc chỗ nằm, điều kiện ăn uống và có thể có phương tiện giải trí để giảm bớt sự mệt mỏi trong thời gian hành khách ngồi trên phương tiện.
Bên cạnh đó việc lựa chọn thời điểm khởi hành và kết thúc của một hành trình cũng rất quan trọng, giúp cho hành khách thuận tiện cho việc đi lại. + Vận chuyển nhanh chóng. Đây cũng là một yêu cầu cơ bản đối với vận tải. Trong VTHK, đồng thời với tăng tốc độ phương tiện là phải rút ngắn thời gian chờ đợi tại các bến, cảng.
Vì vậy, để đảm bảo vận chuyển nhanh chóng cần có biện pháp tổ chức, phối hợp tốt các giai đoạn, các hoạt động trong quá trình vận tải. Việc tăng tốc độ vận chuyển đến một mức nào đó đòi hỏi có những trang thiết bị cần thiết đảm bảo an toàn trong quá trình vận chuyển, khi đó chi phí vận tải có thể tăng lên. + Vận chuyển tiết kiệm. Để vận chuyển hành khách người ta phải bỏ ra chi phí, trên góc độ nền kinh tế thì đây là một khoản chi phí lớn mà nền kinh tế phải gánh chịu.
Vì vậy, việc giảm chi phí vận tải rất quan trọng, đòi hỏi các DN vận tải phải sử dụng các hình thức khai thác phương tiện và thiết bị hợp lý để góp phần giảm giá thành vận chuyển. + Các yêu cầu khác. Ngoài các yêu cầu kể trên, đối với VTHK người ta còn đề cập đến một số yêu cầu khác như tính tiện nghi, vận chuyển đều đặn đúng thời hạn,… c. Phân loại vận tải hành khách Có nhiều cách phân loại VTHK: + Theo phương thức vận tải: * Vận tải đường bộ; * Vận tải đường sắt; * Vận tải đường thủy; * Vận tải hàng không; * Vận tải đô thị.
Bao gồm tàu điện ngầm (metro), tàu điện bánh sắt (tramway), xe điện bánh hơi (trolleybus), ô tô buýt (bus), tàu điện một ray (monoray), đường sắt nhẹ (LRT), taxi,… 8 * Vận tải đặc biệt. Dấu hiệu phân biệt vận tải đặc biệt như phương tiện đặc biệt, đối tượng đặc biệt, cự ly đặc biệt,…Ví dụ như vận tải bằng băng chuyền, cáp treo,… + Theo phương thức quản lý: * Vận tải cá nhân. Là hình thức tự phục vụ, tự thỏa mãn nhu cầu đi lại của cá nhân và người thân nhưng không thu tiền. * Vận tải hành khách công cộng.
Là hình thức vận tải phục vụ mọi đối tượng hành khách đi lại và có thu tiền, tức là tìm kiếm lợi nhuận qua việc phục vụ các đối tượng đó. VTHK công cộng gồm hai loại: Loại có sức chở lớn như tầu điện ngầm, xe bus,… Loại có sức chứa nhỏ như xe máy ôm, xe taxi,… * Vận tải hành khách công vụ. Phương tiện đưa đón công nhân, cán bộ, học sinh,… + Theo địa giới hành chính: * Vận tải trong thành phố; * Vận tải liên tỉnh; * Vận tải quốc tế; d. Phương pháp đánh giá chất lượng vận tải hành khách Như đã phân tích ở trên, VTHK là ngành sản xuất vật chất đặc biệt, là ngành dịch vụ nên mang tính xã hội cao, tạo ra sản phẩm không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất, nhằm thỏa mãn các nhu cầu kịp thời, tiện nghi, an toàn, hiệu quả,…nên việc đánh giá chất lượng VTHK hết sức phức tạp.
Đánh giá chất lượng vận tải hành khách người ta thường dùng đồng thời các phương pháp sau: + Tự đánh giá. Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ tự xác định bản thân thuộc mức nào (đánh giá của bên thứ nhất). + Đánh giá của bên thứ hai. hành khách đánh giá.
+ Đánh giá của bên thứ ba. Đánh giá theo các tổ chức đánh giá chuyên nghiệp (ISO). Để đánh giá chất lượng VTHK cần đánh giá theo ba giai đoạn của quá trình vận chuyển là trước, trong khi vận chuyển, và sau khi vận chuyển. + Tiêu chí đánh giá chất lượng VTHK.
Chất lượng VTHK được đánh giá theo các tiêu chí sau đây: 9 * Độ tin cậy, tính đảm bảo: thời gian xuất phát, thời gian đến (thời gian thực hiện hành trình) đảm bảo đúng thời gian biểu, giá cước, an toàn, an ninh, sức khỏe hành khách, hành lý đảm bảo; *Tính nhanh chóng kịp thời; * Tính thuận lợi, tiện nghi; * Tính kinh tế. Vận tải hành khách bằng ô tô a. Đặc điểm vận tải hành khách bằng ô tô Vận tải ô tô là hình thức vận tải phổ biến nhất, được dùng rộng rãi trong nền kinh tế quốc dân ở tất cả các quốc gia. Vận tải ô tô có một số ưu điểm cơ bản đảm bảo cho nó phát triển nhanh trong thời gian gần đây.
Ưu điểm chính của vận tải ô tô là tính cơ động cao, tốc độ vận chuyển nhanh, giá thành vận chuyển trong khoảng cách ngắn thấp hơn so với vận chuyển đường sắt, đường thuỷ. Vận tải ô tô có thể thực hiện vận tải từ cửa đến cửa, không phải qua các hình thức vận tải khác. Vận tải ô tô có thể thực hiện bất kỳ lúc nào trên các loại đường, thậm chí ở những nơi chưa có đường. Ngoài chức năng vận chuyển độc lập, vận tải ô tô còn hỗ trợ cho vận tải đường sắt, đường thuỷ, và hàng không.
Phương tiện vận tải ô tô đa dạng, giá trị và chất lượng các loại phương tiện cũng rất khác nhau đáp ứng nhu cầu đa dạng của hành khách. Đối với VTHK trong đô thị, VTHK bằng xe buýt đem lại cho đô thị văn minh, thân thiện môi trường, giảm ùn tắc giao thông; ngược lại, sử dụng quá nhiều phương tiện vận tải cá nhân dẫn đến ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường. Vận tải ô tô có nhược điểm: Các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật thấp hơn so với vận tải đường sắt và vận tải đường thủy; gây ô nhiễm môi trường và sử dụng nhiều đất đai; mức độ an toàn không cao, gây hệ lụy bi thương cho nhiều gia đình, gánh nặng đối với toàn xã hội; năng suất lao động thấp nên tiền lương chiếm một tỷ trọng khá cao trong giá thành vận tải ô tô. Các loại hình vận tải hành khách bằng ô tô - Vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định: vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định là hoạt động kinh doanh vận tải hành khách định kỳ trên một hành trình cố định được xác định bởi bến đi, bến đến và các tuyến đường cụ thể.
Vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định được đăng ký khai thác 10 tuyến theo biểu đồ chạy xe do Sở Giao thông vận tải công bố cho các phương tiện thuộc quyền quản lý và sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã. Tuyến vận tải hành khách cố định liên tỉnh có cự ly từ 300 kilômét trở lên phải xuất phát và kết thúc tại bến xe khách từ loại 1 đến loại 4 hoặc bến xe loại 5 thuộc địa bàn huyện nghèo theo quy định của Chính phủ.