chương 1, tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn, phương pháp nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, đóng góp về ý nghĩa thực tiễn của Luận văn và kết cấu luận văn. Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài về quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại và đề xuất khung lý thuyết. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm Ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, nó cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nó nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau. Nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng thương mại rất phong phú và đa dạng cùng với sự phát triển của khách hàng, khoa học kỹ thuật kinh tế và xã hội, hoạt động của Ngân hàng thương mại cũng có nhiều phương pháp mới, nhưng các nghiệp vụ kinh doanh về cơ bản không thay đổi là nhận tiền gửi và hoạt động cho vay, đầu tư.
Qua Ngân hàng thương mại các chính sách tài chính tiền tệ của Quốc gia sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng và cũng nhờ nó mà việc kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp theo đúng luật pháp được dễ dàng hơn. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội. Trong cơ chế thị trường, các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cũng là các doanh nghiệp nhưng chúng là những doanh nghiệp đặc biệt vì tài sản trong quá trình kinh doanh của các Ngân hàng thương mại đều phụ thuộc vào các khách hàng. NHTM đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với lịch sử của nền sản xuất hàng hóa, tạo nên một mối tương quan lẫn nhau của hai chủ thể này trong quá trình phát triển của nhân loại.
Hệ thống NHTM phát triển tạo nên tác động rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Ngược lại, NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động và trở thành những định chế trung gian tài chính không thể thiếu khi nền kinh tế hàng hóa vận động mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường, dẫn đến tính tất yếu khách quan của việc hoạt động của hệ thống NHTM gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. 7 Kể từ khi ra đời cho đến nay, các quốc gia trên thế giới đã đưa ra nhiều định nghĩa tổng quát về NHTM dựa trên tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động của NHTM trên thị trường tài chính. Theo Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) thì NHTM được định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác và sử dụng số tiền đó cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”.
Trong khi đó, theo Bộ luật về hoạt động ngân hàng năm 1971 của Mỹ (The U. Banking Act of 1971) thì NHTM được định nghĩa là “công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”. Còn theo Luật Ngân hàng của Ấn Độ năm 1959 thì NHTM là “cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Ở Việt Nam, cùng với việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, triển khai tính nhất quán trong việc thực hiện các chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước Việt Nam đã quy định “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Khoản 3, Điều 04, Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam số 47/2010/QH12).
Như vậy, định nghĩa về NHTM còn phụ thuộc vào đặc trưng, tập quán pháp luật của từng quốc gia, vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, khi đi sâu phân tích nội dung của các định nghĩa thì các NHTM đều có chung một tính chất là nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng đó. Trên thế giới có nhiều loại hình NHTM khác nhau, vì vậy, để phân loại NHTM cần dựa trên các tiêu chí riêng. Căn cứ vào hình thức sở hữu, NHTM được chia thành ngân hàng sở hữu tư nhân, ngân hàng sở hữu của các cổ đông và ngân hàng sở hữu Nhà nước.
Căn cứ vào tính chất hoạt động thì có ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng đa năng, ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ. Căn cứ vào cơ cấu tổ chức, NHTM gồm có ngân hàng sở hữu công ty và ngân hàng không sở hữu công ty. Riêng ở Việt Nam, các loại hình NHTM được phân chia như sau: 8 - NHTM quốc doanh: Đây là các ngân hàng được Nhà nước cấp vốn và hoạt động duới sự quản lý của Nhà nước. Ngoài những hoạt động kinh doanh đặc trung của một NHTM thì các ngân hàng này phải thực hiện các nhiệm vụ khác khi Nhà nước giao phó.
Các NHTM quốc doanh của Việt Nam hiện nay là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng TNHH MTV Dầu khí toàn cầu, Ngân hàng TNHH MTV Đại Dương, Ngân hàng TNHH MTV Xây dựng, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam. - NHTM cổ phần: Đây là các ngân hàng được thành lập và hoạt động theo Luật Công ty Cổ phần. Sở hữu ngân hàng là các cổ đông và họ cùng nhau góp vốn để hình thành, vận hành ngân hàng theo quy định của pháp luật. Loại hình NHTM cổ phần chiếm khoảng 65% số lượng NHTM của Việt Nam.
- Ngân hàng liên doanh: Là loại hình NHTM được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh, có trụ sở chính tại Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh là vốn góp của bên ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng nước ngoài. Hiện nay, Việt Nam có 03 ngân hàng liên doanh là Ngân hàng TNHH Indovina, Ngân hàng liên doanh Vid Public và Ngân hàng liên doanh Việt – Nga. - Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Là một bộ phận của ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.
Các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam gồm có ANZ Việt Nam, Hong Leong Việt Nam, HSBC Việt Nam, Shinhan Việt Nam và Standard Chartered Việt Nam. Chức năng NHTM có 03 chức năng chính, bao gồm: chức năng làm trung gian tín dụng, chức năng làm trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Với chức năng làm trung gian tín dụng, NHTM là cầu nối giữa người thiếu vốn và người có vốn nhàn rỗi trên thị trường tiền tệ. Thực hiện chức năng này, NHTM không chỉ mang lại lợi ích cho những người thừa vốn, người thiếu vốn mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói 9 chung.1, có thể thấy sự luân chuyển của nguồn vốn nhàn rỗi nhờ vào trung gian tín dụng là NHTM.
Sơ đồ luân chuyển vốn Gửi tiền Ngân Cá Cá nhân Gửi tiền hàng nhân và và doanh thương doanh nghiệp mại nghiệp Ủy thác đầu tư Ủy thác đầu tư Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Sơ đồ 1.1 cho thấy các NHTM tạo ra lợi nhuận, duy trì sự tồn tại và phát triển dựa vào sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, ngoài ra còn có các khoản hoa hồng môi giới. Đối với nền kinh tế, chức năng trung gian tín dụng của NHTM tạo nên nguồn cung cấp vốn đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh và mở rộng quy mô hoạt động của các doanh nghiệp. Nói cách khác, với chức năng này, NHTM đã chuyển hóa nguồn vốn nhàn rỗi thành nguồn vốn hoạt động, tạo ra lợi nhuận và kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Vì vậy, chức năng trung gian tín dụng của NHTM là chức năng quan trọng nhất, quyết định đến sự tồn tại của NHTM và là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.
Với chức năng làm trung gian thanh toán, NHTM thực hiện thanh toán hộ cho khách hàng bằng hình thức chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của khách hàng. Theo đó, thông qua chức năng này, NHTM đóng vài trò là tổ chức giữ tiền và chi hộ cho các cá nhân và doanh nghiệp. Cụ thể hơn, khi khách hàng thực hiện thanh toán qua NHTM sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng, từ đó tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn và hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng theo. Về phía NHTM, chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông qua thu phí dịch vụ thanh toán.
Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM. Với chức năng tạo tiền, thông qua quá trình cho vay và thanh toán hộ của NHTM thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và lớn hơn so với lượng dự trữ ban đầu. 10 Có thể thấy chức năng tạo tiền chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ. Nói cách khác chức năng này là hệ quả của chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán.3 Các nghiệp vụ của Ngân hàng thƣơng mại Với lịch sử hình thành từ lâu đời, NHTM đã trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển và có nhiều thay đổi để phù hợp hơn với xu hướng chung và nhu cầu của khách hàng.
Trong đó, số lượng và các loại hình dịch vụ mà các NHTM cung cấp cũng có nhiều thay đổi. Nếu như trước đây chúng ta chỉ biết đến NHTM với các nghiệp vụ cơ bản nhất là nhận tiền gửi và cho vay, thì giờ đây, các nghiệp vụ ngân hàng mà các NHTM cung cấp ra thị trường thật sự rất đa dạng và hữu ích; phần nào phản ánh được sự phát triển của hệ thống NHTM.