Chương I: Tổng quan về quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Chương II: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành Chương III: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành 5 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản Tín dụng là quan hệ kinh tế trong đó các chủ thể chuyển cho nhau quyền sử dụng tạm thời một lượng giá trị hoặc một hiện vật theo nguyên tắc có hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị chênh lệch này gọi là lợi tức tín dụng.
Theo Điều 4, mục 14 tại Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH2 quy định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy, có thể nói: tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định trả lại với một lượng lớn hơn. Tín dụng có 3 đặc điểm cơ bản và nếu như thiếu một trong 3 đặc điểm sau thì sẽ không còn là phạm trù tín dụng nữa: - Thứ nhất: Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác.
- Thứ hai: Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời. - Thứ ba: Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức. 6 Trong thực tế có rất nhiều loại hình tín dụng khác nhau: tín dụng dưới hình thức mua bán chịu thì được hiểu là tín dụng thương mại; tín dụng dưới góc độ là các ngân hàng với các chủ thể khác thì được hiểu là tín dụng ngân hàng. Mặt khác, tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay.
Nhưng khi nó được gắn với một chủ thể nhất định như ngân hàng, vì tính phức tạp mà thông thường tín dụng ngân hàng chỉ hàm nghĩa ngân hàng là chủ thể cho vay. Tóm lại, tín dụng ngân hàng là quan hệ kinh tế về sử dụng vốn tạm thời giữa ngân hàng và các tổ chức kinh tế và các cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn của các tổ chức và cá nhân trong kinh doanh. Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy nhiên nó vẫn giữ nguyên được những bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng. Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên là NHTM và một bên là các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức tín dụng, NHTM khác.
Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại thì hoạt động cho vay là hoạt động phức tạp nhất. Trong nội dung của đề tài này, tôi chỉ xin đề cập đến khía cạnh cho vay của hoạt động tín dụng ngân hàng. Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ thể hoá trong các quy định: - Khách hàng phải cam kết hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay theo đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Phân loại Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo từng nhóm dựa trên một 7 số tiêu thức nhất định, là tiền đề để các ngân hàng thiết lập quy trình tín dụng thích hợp và giúp cho người vay sử dụng vốn một cách hiệu quả, và từ đó nâng cao được chất lượng trong công tác quản trị rủi ro tín dụng. Tuỳ vào mục đích nghiên cứu và sử dụng mà chúng ta có thể phân loại theo một số tiêu thức sau : 1. Phân loại theothời gian Việc phân loại tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng.
Theo cách phân loại này tín dụng được phân thành 3 loại: - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời gian cho vay từ 12 tháng trở xuống. - Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời gian cho vay từ trên 12 tháng đến 5 năm. - Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời gian cho vay trên 5 năm. Phân loại theo hình thức tài trợ Phân loại theo hình thức này gồm có: - Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàn một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
- Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. - Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ 8 nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. - Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
- Cho thuê tài chính:là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thoả thuận nhất định. Sau một thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng. Đây thường là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là ngân hàng với khách hàng thuê. Khi hết thời gian thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê.
Phân loại theo tài sản đảm bảo Việc phân loại theo tiêu thức này rất quan trọng đối với các ngân hàng, vì tài sản đảm bảo cho các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách phát mại tài sản đảm bảo đó trong trường hợp nguồn thu nợ thứ nhất (từ quá trình sản xuất kinh doanh) không đủ hoặc không có. Thông thường theo tiêu thức này, tín dụng được chia thành 2 loại sau: - Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng được cấp, ngoài việc dựa trên cơ sở hiệu quả từ phương án kinh doanh còn dựa trên cơ sở cầm cố, thế chấp hoặc có sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. - Tín dụng không có bảo đảm: khác với tín dụng có bảo đảm, tín dụng không có bảo đảm chỉ được cấp trên cơ sở uy tín và hiệu quả của phương án kinh doanh hoặc các khoản tín dụng theo chỉ định của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu không cần có tài sản bảo đảm. Phân loại theo ngành kinh tế 9 - Tín dụng nông nghiệp: là loại tín dụng phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Tín dụng công nghiệp: là loại tín dụng phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp. - Tín dụng thương mại dịch vụ: là loại tín dụng nhằm tài trợ cho hoạt động cung ứng dịch vụ, mua bán, khách sạn, du lịch,… Cách phân loại này cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liền với những lĩnh vực tài trợ chính để có thể đưa ra chính sách khách hàng phù hợp. Phân loại theo tiêu thức khác Ngoài các tiêu thức trên, tín dụng còn có thể phân loại theo mục đích sử dụng như tín dụng tiêu dùng, tín dụng sản xuất; theo đối tượng tín dụng như tín dụng tài trợ cho tài sản lưu động, tín dụng tài trợ cho tài sản cố định; theo mức độ rủi ro như tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, tín dụng quá hạn có khả năng thu hồi, tín dụng quá hạn khó thu hồi. Các cách phân loại này cho ta thấy tín dụng ngân hàng rất đa dạng và phong phú, đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý của các NHTM nói riêng và của nền kinh tế thị trường nói chung.
Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Rủi ro được hiểu một cách chung nhất là: "Rủi ro là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước, và khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác kết quả kỳ vọng theo kế hoạch". Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa hoạt động của các ngân hàng, tuy nhiên muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận rủi ro. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, các ngân hàng không còn con đường nào khác là phải đương đầu với rủi ro có thể xảy ra bằng cách nhận diện chúng để từ đó tìm ra biện pháp phòng ngừa, hạn chế nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra.
Trong hoạt động kinh doanh, ngân 10 hàng có thể gặp rất nhiều loại rủi ro khác nhau nhưng có một số loại rủi ro chính như sau: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá.