Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Khái quát kiểm soát nội bộ trong khu vực công 1. Khái niệm kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực công Ủy ban COSO (Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) đưa ra định nghĩa về kiểm soát nội bộ như sau: kiểm soát nội bộ được định nghĩa là một quá trình, được thực hiện bởi ban lãnh đạo, ban quản lý và các nhân sự khác của tổ chức, được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu liên quan đến hoạt động, báo cáo và tuân thủ (COSO, 2013) Kiểm soát nội bộ là một quá trình không thể tách rời được thực hiện bởi ban quản lý và nhân viên của tổ chức và được thiết kế để giải quyết các rủi ro và đảm bảo hợp lý nhằm theo đuổi sứ mệnh của tổ chức (INTOSAI, 2004). Các mục tiêu sau đây được hoàn thành: (1) Thực hiện các hoạt động có trật tự, đạo đức, kinh tế, hiệu quả và hiệu quả; (2) Hoàn thành nghĩa vụ về trách nhiệm giải trình; (3) Tuân thủ các luật và quy định hiện hành; (4) Bảo vệ tài nguyên chống mất mát, lạm dụng và gây thiệt hại.
Sự cần thiết của việc kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực công Hệ thống kiểm soát nội bộ đóng vai trò quan trọng trong một tổ chức cơ quan hành chính sự nghiệp. Nó giúp cho các cơ quan này giảm thiểu những sai sót và rủi ro trong quản lý, giúp cho bộ máy hoạt động hữu hiệu và hiệu quả hơn (Võ Đăng Khoa, 2015). Vai trò quan trọng của kiểm soát nội bộ thể hiện ở các khía cạnh sau: Hệ thống kiểm soát nội bộ phát hiện được những thiệt hại, sai sót và hành vi vi phạm trong việc sử dụng tài sản của cơ quan. Từ đó cơ quan đề ra được những biện pháp để bảo vệ tài sản hữu hiệu và sử dụng hợp lý hơn.
Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp nhà Lãnh đạo kiểm soát được cán bộ nhân viên trong vấn đề tuân thủ kỷ cương, nội quy cơ quan, tuân thủ những quy tắc ứng xử, nắm bắt được hành vi đạo đức của cán bộ nhân viên từ đó đưa ra những tiêu chí cho hình thức khen thưởng hay kỷ luật phù hợp. 9 Hệ thống kiểm soát nội bộ kiểm soát mức độ hoàn thành công việc của cán bộ nhân viên, tạo điều kiện hình thành ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ nhân viên ngày càng hoàn thiện hơn trong việc thực thi nhiệm vụ của mình. Hệ thống kiểm soát nội bộ kiểm soát được sự tuân thủ của cán bộ nhân viên, giúp họ biết được việc chấp hành nội quy cơ quan, chính sách pháp luật là cần thiết, kiểm soát được những sai phạm và giảm thiểu sai sót trong thực thi công vụ. Hệ thống kiểm soát nội bộ là một bộ phận quan trọng, nó giám sát và kiểm soát toàn bộ quy trình hoạt động của bộ máy, nó giúp ban lãnh đạo quản lý hiệu quả bộ máy của cơ quan, nếu không có hệ thống kiểm soát nội bộ bộ máy sẽ không hoạt động hiệu quả, những gian lận, sai sót, báo cáo không trung thực, thất thoát những nguồn lực, lãng phí, tham nhũng tiêu cực là không tránh khỏi.
Các thành phần của kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực công KSNB trong lĩnh vực công gồm năm thành phần có liên quan với nhau là (1) môi trường kiểm soát; (2) đánh giá rủi ro; (3) hoạt động kiểm soát; (4) thông tin và truyền thông; (5) giám sát (INTOSAI, 2004). Các thành phần này xác định một cách tiếp cận KSNB trong chính phủ và cung cấp một cơ sở để KSNB có thể được đánh giá. Các thành phần này áp dụng cho tất cả các khía cạnh hoạt động của một tổ chức. Có mối quan hệ trực tiếp giữa các mục tiêu tổng quát và các thành phần KSNB, mối quan hệ này được miêu tả trong một ma trận ba chiều, trong hình dạng của một khối lập phương bên dưới.
Bốn mục tiêu chung gồm trách nhiệm giải trình (và báo cáo); sự tuân thủ (với luật pháp và các quy định); các hoạt động (có trật tự, đạo đức, kinh tế, hiệu quả và hiệu quả); và các nguồn lực bảo vệ. Các mục tiêu chung được thể hiện bằng các cột thẳng đứng. Năm thành phần được thể hiện bằng các hàng ngang. Mỗi hàng thành phần cắt ngang và áp dụng cho cả bốn mục tiêu chung.
Ví dụ: dữ liệu tài chính và phi tài chính được tạo ra từ các nguồn bên trong và bên ngoài thuộc thành phần 10 thông tin và truyền thông là cần thiết để quản lý hoạt động, báo cáo và hoàn thành các mục đích giải trình và tuân thủ các luật hiện hành. KSNB không chỉ liên quan đến toàn bộ tổ chức mà còn đối với một phòng ban riêng biệt. Mối quan hệ này được miêu tả bởi khía cạnh thứ ba đại diện cho toàn bộ các tổ chức, các thực thể và các phòng ban. KSNB có liên quan và có thể áp dụng được đối với tất cả các tổ chức, cách thức quản trị áp dụng nó sẽ khác nhau nhiều với bản chất của thực thể và phụ thuộc vào một số yếu tố cụ thể của thực thể đó.
Trách nhiệm giải trình Sự tuân thủ Các hoạt động Các nguồn lực bảo vệ Môi trường kiểm soát Tổ chức Các thực thể Đánh giá rủi ro Phòng ban Hoạt động kiểm soát Thông tin và truyền thông Giám sát Hình 1.1: Mối quan hệ giữa mục tiêu tổng quát và các thành phần kiểm soát nội bộ (Nguồn: INTOSAI, 2004, trang 15) 1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập (Đăng Thủy, 2011). 11 Thuế TNCN là một loại thuế trực thu, thu trực tiếp trên thu nhập nhận được của cá nhân trong một khoản thời gian nhất định thường là một năm hoặc từng lần phát sinh.
Tuy nhiên, không phải toàn bộ thu nhập của các thể nhân và pháp nhân đều là đối tượng đánh thuế thu nhập, mà thuế thu nhập điều chỉnh hay thu trên phần thu nhập chịu thuế tức là khoản thu nhập sau khi đã được miễn trừ chi phí hợp lý, hợp lệ (Đặng Văn Dân, 2018). Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân Theo Đặng Văn Dân (2018), chính sách thuế TNCN ở các quốc gia có khác nhau nhưng nhìn chung thuế TNCN có có một số đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu. Nghĩa là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của NNT, nhà nước thu tiền trực tiếp từ các chủ thể trong nền kinh tế. Tính trực thu của thuế TNCN biểu hiện sự đồng nhất về đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế tho ý nghĩa kinh tế.
Thứ hai, thuế TNCN có độ nhạy cảm cao. Vì thuế TNCN buộc các nhân có thu nhập trích nộp một phần thu nhập của mình vào NSNN. Do đó, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của NNT và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội. Thứ ba, thuế TNCN có phạm vi điều chỉnh rộng.
Đối tượng nộp thuế được quy định đối với tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại quốc gia đó, nếu có thu nhập chịu thuế đều phải nộp thuế. Thứ tư, thuế TNCN là một loại thuế phức tạp, việc QLT, thu thuế tương đối khó khăn, bởi diện đánh thuế rộng, liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh cá nhân, chính sách xã hội cụ thể, có áp dụng phương pháp lũy tiến. Thứ năm, chi phí hành thu rất cao. Đối tượng chịu thuế, thu nhập chịu thuế của thuế TNCN đa dạng, biểu thuế áp dụng phức tạp, quá trình kê khai, thu thuế gặp nhiều khó khăn vì phụ thuộc vào tính trung thực của người chịu thuế.
Vai trò của thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN ngày càng khẳng định vai trò to lớn đối với nền kinh tế xã hội nói chung và đối với hệ thống thuế của mỗi quốc ga nói riêng (Đặng Văn Dân, 2018). Vai trò của thuế TNCN thể hiện ở hai khía cạnh sau: 12 Một là, thuế TNCN góp phần tạo nguồn thu cho NSNN. Trong bối cảnh thuế xuất nhập khẩu giảm dần do yêu cầu tự do hóa thương mại nên thuế TNCN ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng cho NSNN, đặc biệt là đối với các nước đang phát triền trong đó có Việt Nam. Hai là, chính phủ sử dụng công cụ thuế TNCN để điều tiết thu nhập giữa các cá nhân nhằm tạo công bằng cho xã hội.
Thực hiện công bằng xã hội là một trong những vai trò quan trọng của thuế nói chung. Trong nền kinh tế thị trường, thuế TNCN được xem là công cụ hữu hiệu nhất góp phần hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, dẫn đến những bất bình trong dân cư, kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội. Với việc sử dụng biểu thuế lũy tiến từng phần và thu nhập chịu thuế với qui định chiết trừ gia cảnh giúp cho thuế TNCN phản ánh đúng khả năng kinh tế của NNT, đảm bảo công bằng xã hội, đồng thời khuyến khích dân cư tích cực lao động, gia tăng thu nhập và làm giàu cho xã hội. Nội dung cơ bản về thuế thu nhập cá nhân 1.
Đối tượng chịu thuế Theo quy định tại Điều 3 văn bản hợp nhất "Văn bản hợp nhất Luật Thuế thu nhập cá nhân," 2014, thì các khoản thu nhập của cá nhân không phân định nguồn hình thành đều được xác định là đối tượng chịu thuế TNCN trừ một số thu nhập đặc thù. Căn cứ vào tính ổn định của khoản thu nhập, thu nhập chịu thuế TNCN chia thành hai nhóm đó là thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên (Đặng Văn Dân, 2018). Thu nhập thường xuyên: Đây là những khoản thu nhập mang tính chất ổn định, đều đặn, giữ vai trò quan trọng đối với sự tồn tại của cá nhân, là nguồn thu nhập chính để duy trì cuộc sống của mỗi cá nhân. Thu nhập thường xuyên có thể được hình thành từ hoạt động kinh doanh hay hoạt động làm thuê, bao gồm: (1) Thu nhập từ kinh doanh; (2) Thu nhập từ tiền lương, tiền công và các khoản mang tính chất tiền lương tiền công.
Thu nhập không thường xuyên: Đây là khoản thu nhập không mang tính chất đều đặn, ổn định.