phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Bƣu điện Liên Việt – Chi nhánh Đông Đô. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Bƣu điện Liên Việt – Chi nhánh Đông Đô. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngƣợc lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trƣờng thì NHTM cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Thông qua hoạt động tín dụng thì ngân hàng thƣơng mại tạo lợi ích cho ngƣời gửi tiền, ngƣời vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lại suất mà thu đƣợc lợi nhuận cho ngân hàng.
Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 16/06/2010 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011: “Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”. [Mục 3, Điều 4] Theo Luật Ngân hàng nhà nƣớc: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”.[Mục 3, Điều1] Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM cũng cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Vốn của ngân hàng thƣơng mại 1.
Vốn của Ngân hàng thương mại Các nhà kinh tế đã đƣa ra khái niệm về vốn của Ngân hàng thƣơng mại nhƣ 9 sau: “Vốn của ngân hàng thƣơng mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thƣơng mại tạo lập hoặc huy động đƣợc dùng để cho vay, đầu tƣ hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác”. Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của ngân hàng thƣơng mại. Về thực chất vốn của ngân hàng thƣơng mại là bao gồm các nguồn tiền tệ của chính bản thân ngân hàng và của những ngƣời có vốn tạm thời nhàn rỗi. Họ chuyển tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: hoặc lấy lãi, hoặc nhờ thu, nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng.
Đây chính là họ chuyển quyền sử dụng vốn cho ngân hàng và số tiền mà ngân hàng phải trả hay làm các dịch vụ chính là cái giá của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ đó. Nhờ việc có đƣợc nguồn vốn, các ngân hàng có thể tiến hành kinh doanh: cho vay, bảo lãnh, cho thuê.Nói chung vốn của ngân hàng chi phối toàn bộ và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM. Vốn của ngân hàng thƣơng mại bao gồm: Vốn chủ sở hữu; Vốn huy động; Vốn đi vay; Vốn khác. Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của NHTM.
Vốn huy động của Ngân hàng thương mại Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại. Với việc huy động vốn, ngân hàng có đƣợc quyền sử dụng vốn và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho ngƣời gửi. Ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cƣ, các tổ chức kinh tế – xã hội. với nhiều hình thức khác nhau chi tiết nhƣ sau: a.
Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch) Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích là sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Khoản tiền gửi thanh toán này có thể đƣợc trả lãi ( trả lãi thấp ) hoặc không đƣợc trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng. Ngƣời gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thu hộ tiền, trả hộ 10 tiền. với một mức phí thấp.
Các ngân hàng có thể sử dụng các số dƣ tiền gửi khách hàng vào các hoạt động của mình. Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định. Họ gửi tiền vào ngân hàng để hƣởng lãi. Tuy khoản tiền này không tiện lợi bằng tiền gửi thanh toán ( do khi cần tiền phải đến ngân hàng để rút ) nhƣng bù lại tiền gửi có kỳ hạn lại có lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn đƣợc ghi trên hợp đồng.
Tiền gửi tiết kiệm của dân cƣ Trong cộng đồng dân cƣ luôn có những ngƣời có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi. Họ gửi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền đó. Ngƣời gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với ngân hàng. Hiện nay tiền gửi tiết kiệm là khu vực tiềm năng đồng thời là nơi cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, để thu hút nguồn tiền này các ngân hàng luôn đƣa ra các hình thức huy động đa dạng nhƣ tiết kiệm bằng VNĐ, bằng vàng và bằng ngoại tệ, với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn và với nhiều kỳ hạn để ngƣời gửi có nhiều cơ hội lựa chọn cho phù hợp, tiện ích nhất.
Tiền gửi của các ngân hàng khác Đây là nguồn tiền gửi có qui mô thƣờng nhỏ, giữa các ngân hàng luôn có tiền gửi của nhau. Mục đích của việc gửi tiền này là để đảm bảo thanh toán thuận tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho khách hàng của mình. Huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Theo Luật các TCTD (2010), huy động vốn là “hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận”.
[Mục 13, Điều 4] Huy động vốn có thể đƣợc hiểu là “nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn từ các cá 11 nhân, tổ chức kinh tế, định chế tài chính bằng nhiều hình thức khác nhau trong khoảng thời gian nhất định để tạo nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng”. Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM, nó đóng vai tr rất quan trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại a. Huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động vốn truyền thống của Ngân hàng.
Trong hình thức huy động này, ngƣời gửi tiền đƣợc cấp một sổ tiết kiệm, sổ này đƣợc coi là một giấy chứng nhận có gửi tiền vào quỹ tiết kiệm của Ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm của dân cƣ đƣợc chia làm 2 loại: tiết kiệm có kỳ hạn và tiết kiệm không kỳ hạn. ˗ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại hình tiết kiệm phổ biến và quen thuộc. Ngƣời gửi tiền gửi vào NH và rút ra sau những thời hạn xác định (1 tháng, 2 tháng, 3 tháng.
Thống thƣờng, đối với các khoản tiền gửi từ 1 tuần đến 36 tháng, lãi suất sẽ tăng lên theo kỳ hạn gửi. Ngƣời gửi phải tuân thủ đúng nguyên tắc không đƣợc rút trƣớc hạn, nếu rút trƣớc hạn thì sẽ bị phạt với lãi suất phạt NH đƣa ra .Đây là nguồn vốn mang tính ổn định cao cho nên NH phải trả chi phí huy động gần nhƣ cao nhất. Hiện nay, để tăng sức cạnh tranh, thu hút đƣợc vốn các NH đã rất linh hoạt trong việc khách hàng rút ra trƣớc thời hạn, có NH thì tính lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ hạn, có NH vẫn tính với lãi suất đó với số ngày gửi thực tế. ˗ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi tiền và rút tiền bất cứ lúc nào mà không cần báo trƣớc cho Ngân hàng.
Khi gửi tiền khách hàng đƣợc hƣởng lãi suất, góp phần tăng thêm lợi nhuận cho khách hàng. Mặt khác, khi có nhu cầu sử dụng thì khách hàng chủ động rút ra, nên vẫn thỏa mãn nhu cầu về vốn của họ. Ngoài ra, khách hàng c n đƣợc phép sử dụng tiền gửi để phục vụ cho công tác thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng. Mặc dù đối với loại tiền gửi này, ngƣời gửi tiền có thể gửi tiền và rút tiền bất cứ lúc nào, song giữa việc gửi tiền và rút tiền có 12 sự chênh lệch về thời gian và số lƣợng nên trên các loại tài khoản này luôn có số dƣ, Ngân hàng có thể huy động số dƣ đó làm nguồn vốn tín dụng để cho vay.
˗ Tiền gửi thanh toán Đây là tiền của cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dƣ cho phép, ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán cho khách hàng khi họ có yêu cầu. Nhìn chung lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp nhƣng thay vào đó chủ tài khoản có thể đƣợc hƣởng những dịch vụ ngân hàng với mức chi phí thấp. Huy động vốn qua phát hành các giấy tờ có giá Các giấy tờ có giá là công cụ Nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn trên thị trƣờng.
Nguồn vốn này tƣơng đối ổn định để sử dụng cho một mục đích nào đó. Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên thƣờng cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thƣờng.