Chương 1: Trong chương tác giả trình bày các khái niệm tổng quan liên quan đến hoạt động huy động vốn, các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn tại các NHTM. Ngoài các cơ sở lý thuyết liên quan, tác giả còn dựa vào các bài học kinh nghiệm trong hoạt động huy động vốn tại chi nhánh các ngân hàng thương mại trong nước có bối cảnh tương đồng để làm cơ sở tham khảo và vận dụng cho các giải pháp. Chương 2: Luận văn trình bày khái quát quá trình hoạt động của Agribank chi nhánh Bắc Đồng Nai. Đồng thời, tác giả cũng phân tích thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank chi nhánh Bắc Đồng Nai.
Qua kết quả phân tích, sẽ đưa ra những mặt đạt được, hạn chế và nguyên nhân hạn chế để đề ra giải pháp phù hợp thực tiễn. Chương 3: Trình bày các giải pháp và khuyến nghị nhằm đẩy mạnh huy động vốn tại Agribank chi nhánh Bắc Đồng Nai trong thời gian tới. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về huy động vốn Theo Peter S. Rose: ''Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dich vụ tài chính da dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.'' Theo điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng thì “Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.
Hay gọn hơn, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy, huy động vốn là một trong những nghiệp vụ cơ bản của NHTM, thực hiện chức năng trung gian tín dụng, đáp ứng nhu cầu cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Huy động vốn giữ vai trò quan trọng vì còn tạo lập tài sản để tạo ra lợi nhuận nhằm duy trì và phát triển NHTM.2 Các hình thức huy động vốn của NHTM Để tạo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, các NHTM huy động vốn chủ yếu từ các nguồn sau: - Vốn từ chủ sở hữu: gồm vốn điều lệ và các quỹ, lợi nhuận không chia, thặng dư vốn cổ phần. - Vốn huy động bên ngoài: gồm huy động tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vốn đi vay và các nguồn khác tạo ra trong quá trình kinh doanh.
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ trình bày các nguồn vốn huy động từ bên ngoài của NHTM. Cụ thể bao gồm: 8 1.1 Huy động vốn từ tiền gửi Theo Bùi Diệu Anh (2010), các hình thức huy động vốn tiền gửi từ bên ngoài là tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán, cụ thể như sau: (i) Tiền gửi tiết kiệm - Tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút bất cứ lúc nào, song kho ng đu ợc sử dụng các co ng cụ thanh toán để chi trả cho ngu ời khác. Đối với khoản tiền này, chủ tài khoản có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào mà kho ng phải báo tru ớc. Tuy nhie n, số du tài khoản này thu ờng kho ng lớn, nhu ng có u u điểm ho n so với các tài khoản tiền gửi giao dịch ở chỗ: Số du này ít biến đọ ng.
Vì vạ y, nga n hàng trả lãi suất cho khoản tiền này cao ho n so với tiền gửi thanh toán. Đó là điều kiẹ n để các NHTM có thể dễ dàng huy đọ ng số vốn này. - Tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuạ n về thời hạn gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao ho n so với tiền gửi kho ng kỳ hạn. Và lãi suất tỷ lẹ thuạ n với đọ dài kỳ hạn, những khoản gửi càng la u thì lãi suất càng cao.
Tiền gửi tiết kiẹ m đu ợc coi là mọ t co ng cụ huy đọ ng vốn truyền thống của các NHTM. Vốn huy đọ ng từ tài khoản tiền gửi tiết kiẹ m thu ờng chiếm mọ t tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM Về thời hạn huy động tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, được chia ra như sau: Huy động ngắn hạn: Là hình thức NHTM huy động vốn không kỳ hạn và có kỳ hạn ngắn. Nguồn vốn này tối đa là một năm, do kỳ hạn ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tính ổn định kém. Các NHTM thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn và các hoạt động nhận tiền gửi ngắn hạn.
Huy động trung hạn: Có thời gian huy động từ một năm đến ba năm. Nguồn vốn này được các NHTM sử dụng tương đối dài và thuận tiện, cho các doanh nghiệp vay trung hạn lãi suất cao đối với các dự án đầu tư chiều sâu mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho doanh nghiệp. Huy động dài hạn: Nguồn vốn này có thời gian huy động trên ba năm và được NHTM sử dụng vào nhiệm vụ đầu tư phát triển theo định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước như: đầu tư vào các dự án phục vụ quốc tế dân 9 sinh, các dự án đổi mới thiết bị công nghệ, xây mới các nhà máy. Lãi suất mà NHTM phải trả cho chủ sở hữu nguồn vốn này thường rất cao.
(ii) Tiền gửi thanh toán Trong quá trinh hoạt động kinh doanh, với việc xác định được thời gian cho các khoản phải thu phải trả các doanh nghiệp, cá nhân sẽ hình thành một khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa sử dụng trong tài khoản thanh toán tại NHTM. Khoản tiền gửi tạm thời này thường chiếm tỷ trọng nhỏ và không ổn định. Tuy nhiên lãi suất cho các khoản tiền gửi thanh toán này rất thấp, qua đó giúp cho mức lãi suất huy động bình quân của NHTM được giảm xuống để tạo lợi thế cho cung cấp tín dụng cho khách hàng.2 Huy động vốn từ phát hành giấy tờ có giá Các NHTM có thể phát hành các co^ng cụ nợ (nếu đủ điều kiẹ^n theo quy định) nhuv: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu nga^n hàng, trái phiếu nga^n hàng để huy đọ^ng vốn trong mọ^t thời gian nhất định. Chứng chỉ tiền gửi là những giấy xác nhạ^n tiền gửi định kỳ ở mọ^t nga^n hàng hay mọ^t định chế tài chính khác.
Nguvời sở hữu giấy này sẽ đuvợc thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhạ^n đủ tiền vốn khi hết hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành đuvợc luvu tho^ng tre^n thị truvờng tiền tẹ^. Các nga^n hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi chủ yếu cho mụ ích thanh khoản. Các chứng chỉ này thuvờng kho^ng thuọ^c loại trái phiếu chiết khấu, lãi suất của chúng thuvờng cao hovn lãi suất của tín phiếu kho bạc và mức đọ^ rủi ro của nó cũng thấp.
Kỳ phiếu nga^n hàng là mọ^t co^ng cụ nợ ngắn hạn do nga^n hàng pháthành theo từng đợt để huy đọ^ng vốn mọ^t cách linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho những kế hoạch kinh doanh xác định của nga^n hàng. Viẹ^c phát hành kỳ phiếu tùy thuọ^c theo thời gian và tình hình cụ thể của nguồn vốn nga^n hàng. Vốn này chỉ chỉ đuvợc huy đọ^ng trong thời gian nhất định, khi đã huy đọ^ng đủ khối luvợng theo dự kiến nga^n hàng sẽ ngừng viẹ^c huy đọ^ng kỳ phiếu. Đa^y là hình thức huy đọ^ng vốn nhanh vì còn có lãi suất cao hovn lãi suất tiết kiẹ^m cùng thời hạn, lại có thể chuyển nhuvợng dễ dàng ne^n thu hút khối luvợng vốn tuvovng đối lớn.
1 Trái phiếu nga^n hàng là mọ^t co^ng cụ nợ dài hạn của nga^n hàng, với các cam kết thanh toán gốc vào ngày đáo hạn và thanh toán vào những thời gian xác định. Lãi suất của trái phiếu thuvờng cao hovn lãi suất tiền gửi tiết kiẹ^m, kỳ phiếu.Trái phiếu dùng để huy đọ^ng vốn trung dài hạn phục vụ cho những kế hoạch phát triển kinh doanh có quy mo^ lớn và dài hạn. Trong khi kì phiếu là đuvợc phát hành ở từng chi nhánh với khung lãi suất, thời gian phát hành rie^ng biẹ^t thì trái phiếu đuvợc phát hành với quy mo^ lớn, đồng loạt trong hẹ^ thống mỗi nga^n hàng. Ở nuvớc ta hiẹ^n nay các hình thức huy đọ^ng qua phát hành co^ng cụ nợ còn thấp so với nguồn huy đọ^ng khác.
Tuỳ theo từng thời kỳ, khi nào cần thì nga^n hàng mới huy đọ^ng. Sử dụng nguồn này nga^n hàng chủ đọ^ng đuvợc thời gian sử dụng, số luvợng và giá cả của vốn. Tuy nga^n hàng phải trả mức lãi suất cao hovn mức lãi suất huy đọ^ng vốn, nhuvng có tác dụng kiềm chế lạm phát và góp phần cho sự hình thành và phát triển của thị truvờng chứng khoán.3 Huy động vốn từ đi vay - Vay Ngân hàng trung ương: Đây là khoản vay nhằm giải quyết công việc cấp bách trong chi trả của các ngân hàng thương mại. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán) các ngân hàng thương mại thường vay Ngân hàng Nhà Nước (NHTW).
Hình thức vay chủ yếu là tái cấp vốn hoặc tái chiết khấu thương phiếu. Các thương phiếu được chiết khấu hoặc tái chiết khấu thì trở thành tài sản của họ (của Ngân hàng Nhà Nước). Khi cần tiền họ lại mang các thương phiếu này đến Ngân hàng Nhà Nước để chiết khấu. Nghiệp vụ này làm thương phiếu của ngân hàng thương mại giảm đi và dự trữ (tiền mặt hoặc tiền gửi tại Ngân hàng Nhà Nước) tăng lên, Ngân hàng Nhà Nước điều hành vay mượn một cách chặt chẽ; Ngân hàng thương mại phải đáp ứng các điều kiện đảm bào và kiểm soát nhất định.
Thông thường Ngân hàng Nhà Nước chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của Ngân hàng Nhà Nước trong từng thời kỳ. Trong điều kiện 1 chưa có thương phiếu, Ngân hàng Nhà Nước cho ngân hàng thương mại vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng.