MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Công cuộc công nghiệp hóa nông thôn diễn ra nhanh và mạnh ở Việt Nam những năm qua đã cho ra đời gần 400 khu công nghiệp, khu chế xuất (Mộc Minh, 2021), trong đó có 284 khu đã đi vào hoạt động và thu hút hàng triệu lao động nông thôn trở thành công nhân trong các khu công nghiệp. Điều này giúp cho thu nhập của người lao động cao hơn và 6n định hơn so với thu nhập từ làm nông nghiệp truyền thống trước đó, đời sống của người lao động ngày càng được cải thiện. Tính đến tháng 12/2020, cả nước có khoảng 3,3 triệu công nhân lao động trong các khu công nghiệp, trong đó có 2,03 triệu (chiếm hơn 61%) là lao động ngoại tỉnh.
Trong 2,03 triệu công nhân ngoại tỉnh, có tới 1,58 triệu người (chiếm gần 78%) phải thuê trọ. Tuy chỉ chiếm tỷ lệ hơn 14% dân số, 27% lực lượng lao động xã hội, song hàng năm, lực lượng công nhân có đóng góp lớn cho sự phát triển đất nước. Họ tạo ra hơn 65% giá trị tổng sản phẩm xã hội, hơn 70% ngân sách nhà nước. Nhưng, lợi ích của một bộ phận công nhân được hưởng chưa tương xứng với thành quả công cuộc đổi mới và những đóng góp của chính họ.
Nhiều công nhân vẫn chưa thoát khỏi khó khăn, bức xúc do đời sống vật chat, tinh thần còn nghèo nàn (Thái Sơn, 2021). Do phan lớn công nhân xuất thân từ nông thôn, trình độ văn hóa không cao và không được đào tạo bài bản nên khi chuyển đổi việc làm với kỷ luật lao động nghiêm và cường độ lao động cao khiến đời sống tinh thần của công nhân có nhiều thay đổi. Do đó, việc quan tâm chăm lo đời sống tinh thần cho công nhân là van dé hết sức quan trọng, bởi nó liên quan đến quá trình tái tạo sức lao động và sự sáng tạo của công nhân. Nhận thức rõ điều này, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị và Quyết định,.
về xây dựng thiết chế văn hóa, nâng cao đời sông tinh than cho công nhân ở các khu công nghiệp. Chang hạn, Quyết định số 1780/QĐ-TTg (2011) của Thủ tướng về xây dựng và phát triển thiết chế văn hóa, tạo điều kiện dé công nhân các khu công nghiệp được nâng cao đời sống tinh thần; Chỉ thị số 52-CT/TW (2016) của Ban Bí thư về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác nâng cao đời sống tinh thần cho công nhân ở khu công nghiệp, khu chế xuất”. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2020 tối thiểu phải có 30% khu công nghiệp đã hoạt động có trung tâm văn hóa - thể thao. Điều này đã thúc đây các địa phương, doanh nghiệp triển khai các hoạt động nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho công nhân.
Tuy nhiên, đến tháng 3/2021, cả nước mới có 04 trung tâm văn hóa - thé thao trong khu công nghiệp tại 4 tỉnh: Vĩnh Phúc, Hà Nam, Quảng Nam, Sóc Trăng, đạt khoảng 4,2% so với chỉ tiêu đề ra (Thiện Văn - Nhã Trường, 2021). Và các trung tâm văn hóa này, tỷ lệ công nhân đến không đáng kể, bởi cơ sở vật chất trang thiết bị nghẻo nàn, nội dung và hình thức tổ chức đơn điệu: một số nơi tổ chức tốt hơn thì thu phí cao nên đa số công nhân không mặn mà tham gia. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra răng, thực tế đời sống vật chất khó khăn và cường độ lao động cao khiến phần lớn công nhân chưa có điều kiện dé hưởng thụ đời sống tinh thần. Nhiều doanh nghiệp chi tập trung vào việc gia tăng lợi nhuận, chưa quan tâm tới các hoạt động văn hoá, thé dục thé thao, vui chơi giải trí.
Bên cạnh đó, chủ doanh nghiệp cũng chưa thực sự bị ràng buộc trách nhiệm phải chăm lo đời sống tinh thần của người lao động. Điều đáng lưu ý là, bản thân công nhân cũng không có thời gian vì phải làm thêm ca, thêm giờ để cải thiện thu nhập. Do đó, đời sống văn hóa, tinh thần của công nhân tại các khu công nghiệp đa phan đơn điệu và tẻ nhạt. Điều này có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là công nhân không thuộc về một tổ chức chính thức nào, đặc biệt là công nhân làm việc trong các công ty nước ngoài.
Họ cũng không có mối quan hệ với các tổ chức chính thức như chính quyền thành phố, chủ doanh nghiệp, chính quyền địa phương, hội phụ nữ. Các mối quan hệ với nhóm bạn nghê, công đoàn cơ sở có được thiệt lập nhưng còn yêu. Về mặt lý luận, các nghiên cứu về người lao động nói chung, công nhân nói riêng đã được tiễn hành ở nhiều khía cạnh khác nhau, như động lực lao động, bảo vệ quyền của người lao động, các khó khăn của người lao động,. song những nghiên cứu về ứng phó với khó khăn trong đời sống tỉnh thần của công nhân dường như vẫn chư được quan tâm đúng mức.
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề về ứng phó của công nhân với khó khăn trong đời sống tinh thần sẽ góp phần hoàn thiện khung lý luận vê chủ đê này, tạo tiên dé thuận lợi cho các nghiên cứu khác sau này. Thêm vào đó, các kết quả nghiên cứu thực tiễn sẽ là cơ sở khoa học dé đề xuất những định hướng, giải pháp hiệu quả nhằm cải thiện hơn nữa đời sống tỉnh thần của công nhân, đáp ứng nhu cầu lao động, sản xuất trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đât nước. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Ứng phó với khó khăn trong đời sống tỉnh than của công nhân” nhằm cung cap cái nhìn tong quan về cơ sở lý luận đời sống tinh thần của công nhân và cách ứng phó của họ với các khó khăn. Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao đời sống tinh thần của công nhân nói riêng, cuộc sông của công nhân nói chung.
Mục đích nghiên cứu Tìm hiéu thực trạng khó khăn trong đời sông tinh thân của công nhân và ứng pho của họ với những khó khăn này. Trên cơ sở đó dé xuât một sô kiên nghị với các bên liên quan nham cải thiện chat lượng đời sông tinh thân của công nhân. Đối tượng nghiên cứu Khó khăn trong đời sống tinh thần của công nhân và các cách ứng phó của họ với các khó khăn này. Nhiệm vụ nghiên cứu 4.
Nhiệm vu nghiên cứu lý luận Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về những khó khăn trong đời sống tinh thần của công nhân va cách ứng phó của họ với khó khăn trong đời sống tinh than. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn - Xác định thực trạng khó khăn trong đời sống tinh thần của công nhân. - Phân tích các cách thức ứng phó của công nhân với các khó khăn trong đời sống tinh than. - Đề xuất các kiến nghị nham nâng cao đời sống tinh than của công nhân.
Khách thể nghiên cứu 200 công nhân đang làm việc tại khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc. Phạm vỉ nghiên cứu 6. Về nội dung Tập trung nghiên cứu cách thức ứng phó với các khó khăn trong đời sống tinh thân của công nhân trên các khía cạnh như sau: Cách thức ứng phó với khó khăn trong việc học tập nâng cao trình độ. Cách thức ứng phó với khó khăn trong hoạt động thể dục thể thao, giải trí.
Cách thức ứng phó với khó khăn trong việc tham gia các tổ chức, đoàn thể. Cách thức ứng phó với khó khăn trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu Công nhân đang làm việc tại khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc 7. Giả thuyết nghiên cứu Trong số bốn khía cạnh của đời sống tinh thần được đề cập, công nhân gặp khó khăn lớn nhất trong việc tham gia các tô chức đoàn thé (tham gia các tổ chức Công đoàn, các Câu lạc bộ,.
Có sự khác biệt về khó khăn trong đời sống tỉnh thần của công nhân theo một số bién số nhân khẩu học. Công nhân trong phạm vi nghiên cứu của đề tài sử dụng cả 3 cách ứng phó là tập trung giải quyết vấn đề, điều tiết cảm xúc, né tránh khi gặp các khó khăn trong đời sống tinh thần. Trong đó, cách ứng phó điều tiết cảm xúc được khách thé sử dụng nhiều hon cả. Ứng phó của công nhân trong phạm vi nghiên cứu của đề tài có sự khác biệt theo một số biến số nhân khẩu học.
Cách thức ứng phó mà công nhân sử dụng có tương quan với khó khăn trong đời sống tinh thần mà họ gặp phả 8. Phương pháp nghiên cứu 8. Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu Mục đích nghiên cứu tài liệu: Tìm ra những cơ sở nghiên cứu nhằm xây dựng khung lý thuyết và công cụ nghiên cứu cho đê tài. — Hệ thống hóa những tài liệu nói trên để xây dựng khung lý thuyết và nội dung nghiên cứu đề tài.
Cách thức tiền hành nghiên cứu tài liệu: — Tham khảo các công trình nghiên cứu tại kho lưu trữ, thư viện Dai học Khoa học Xã hội và Nhân văn. — Nghiên cứu tài liệu, bài viết, bài báo, các thông tin. đăng tải trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài thông qua công cụ tìm kiếm internet: vista. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Mục đích điều tra: Tác giả xây dựng một bảng hỏi khảo sát dành cho công nhân làm việc tại khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc nhằm tìm hiểu khó khăn trong đời sông tinh than của công nhân và ứng phó của họ với khó khăn này.
Cách thức tiến hành điều tra: Tác giả liên hệ với cán bộ phụ trách/quản lý công nhân tại các công ty thuộc khu công nghiệp Vinh Phúc dé đề xuất xin khảo sát dữ liệu trên công nhân. Phương pháp phỏng van sâu Mục đích phỏng vấn: Bồ sung và làm rõ hơn một số thông tin đã thu được từ bảng hỏi. Cách thức tiễn hành: Đặt các câu hỏi nhằm tìm hiểu sâu hơn về các khó khăn trong đời sống tinh thần của công nhân, cách thức ứng phó của họ với các khó khăn này. Phương pháp xử lý dữ liệu bằng phan mềm thống kê toán học Mục đích xử lý: Nhằm thống kê các số liệu thu được đối với các vấn đề đã khảo sát.
Xử lý thông tin định lượng bằng chương trình SPSS: Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 22 để nhập và xử lý thống kê như: tính tần số, tính phần trăm. làm cơ sở bình luận số liệu từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE UNG PHO VỚI KHÓ KHAN TRONG ĐỜI SÓNG TINH THAN CUA CÔNG NHÂN 1.