CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ 9 TÁI CƠ CẤU QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Khái niệm và đặc điểm cơ bản về QTDND: “QTDND là một loại hình TCTD có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới với những tên gọi khác nhau: Ở Quebec Canada là QTDND Desjardins; ở Cộng hòa Liên Bang Đức là Ngân hàng Hợp tác xã; Ở Mỹ là Liên Minh tín dụng .và ở Việt Nam là QTDND (là loại hình HTXTD kiểu mới trên cơ sở học tập kinh nghiệm của hệ thống QTD Desjardins, Quebec, Canada” (Nguyễn Thị Thanh Loan, 2015, Trang 10 ). Khái niệm QTDND được nhiều tổ chức quốc tế đưa ra như: - Theo Tổ chức Hiệp hội các Liên hiệp tín dụng thế giới (WOCCU), “Quỹ tín dụng - được gọi dưới nhiều tên gọi khác nhau tại các nước trên thế giới - là các hợp tác xã tài chính được sở hữu bởi chính khách hàng của mình, nhằm cung cấp các dịch vụ tiết kiệm, tín dụng và các dịch vụ tài chính khác cho thành viên.
Thành viên của các quỹ tín dụng có mối liên kết chung với nhau, dựa trên các mối quan hệ chung về cộng đồng, nghề nghiệp, tổ chức hoặc tín ngưỡng” - Theo Hiệp hội Liên minh tín dụng quốc gia Hoa Kỳ, “QTD là một định chế tài chính phi lợi nhuận, được xây dựng nhằm phục vụ các nhóm người có cùng đặc điểm về nơi làm việc, cư trú”. Theo Hội đồng Liên minh tín dụng thế giới, “QTD là một loại hình trung gian tài chính mang tính tư nhân và hợp tác, thuộc quyền sở hữu của các thành viên và quản lý QTDND một cách dân chủ” Mục đích hoạt động của QTDND là “đáp ứng nhu cầu về tài chính của mọi thành viên thông qua việc khuyến khích tiết kiệm và cho vay thành viên và các hoạt động khác do chính thành viên quyết định nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thành viên”. Liên minh tín dụng tồn tại với mục đích tồn tại chỉ để phục vụ các thành viên - không phải để kiếm thu nhập từ họ. Lãi được tạo ra sẽ được 10 chia lại cho thành viên bằng cách chia cổ tức và/hoặc được cải thiện, bổ sung cho các thành viên.
Tiền tiết kiệm của các thành viên được sử dụng để tài trợ cho các khoản vay đối với các thành viên đáng tin cậy khác của hiệp hội tín dụng. Vì vậy, tiền nằm trong Hiệp hội tín dụng luôn nằm trong cộng đồng địa phương mà hiệp hội tín dụng phục vụ. Ở Việt Nam, căn cứ theo quy định tại Khoản 6, Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, khái niệm QTDND được hiểu như sau: “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống” 1. Sự hình thành và phát triển của QTDND 1.
Sự hình thành và phát triển của hệ thống QTDND trên thế giới Mô hình hợp tác xã tín dụng xuất hiện lần đầu tiên ở Đức vào giữa những năm 1850 với tư cách là các tổ chức độc lập, là hợp tác xã tài chính phi lợi nhuận, không có trợ cấp của Chính phủ. Năm 1859, Friedrich Raiffeissen, người tiên phong của Hiệp hội tín dụng nông thôn đã thành lập hiệp hội tín dụng đầu tiên của mình ở miền nam nước Đức. Ông tin rằng những người hàng xóm và bạn bè của mình có thể tận hưởng mức sống cao hơn nếu họ sử dụng các quỹ chung. Ý tưởng của Raiffeisen đã được cộng đồng anh ấy đón nhận và mô hình hiệp hội tín dụng lần đầu tiên đã sớm được thành lập.
Đến năm 1864, ông đã thành lập tổ chức cho vay hợp tác nông thôn đầu tiên, hay còn gọi là hiệp hội tín dụng nông thôn đầu tiên. Phong trào phát triển nhanh chóng trên khắp Hoa Kỳ và Canada. Tại Mỹ, Edward Flien - một thương gia giàu có được coi là “cha đẻ của các hiệp hội tín dụng Hoa kỳ” và Roy F. Bergengren – một luật sư, thành lập Cục mở rộng Quốc gia Hiệp hội Tín dụng Hoa Kỳ.
Ông là người đóng vai trò tiên phong về mô hình tín dụng ở Hoa Kỳ, trải qua thời gian 11 phong trào đã đạt được động lực và tiếp tục phát triển. Các hiệp hội tín dụng đã trở nên phổ biến và xuất hiện trên khắp nước Mỹ và được Tổng thống Franklin D. Roosevelt ký Đạo luật Liên minh Tín dụng Liên bang thành luật vào năm 1934, các liên đoàn tín dụng được liên bang điều lệ ở mọi tiểu bang được ủy quyền hợp pháp để tạo ra một hệ thống hợp tác xã phi lợi nhuận. Một tổ chức dịch vụ, Hiệp hội Quốc gia Liên minh tín dụng (CUNA) thành lập để cung cấp bảo hiểm, kiểm toán và cung cấp cho các hiệp hội tín dụng.
Đến cuối thế kỷ 19, mô hình này đã lan rộng ra các nước Châu Âu, và nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở Jamaica trong những năm 1940 và Ireland vào cuối những năm 1950. Các hợp tác xã tín dụng lấy cảm hứng từ sự thành công của các hợp tác xã trong lĩnh vực khác, chẳng hạn như tiếp thị bán lẻ và nông nghiệp. Các hợp tác xã tín dụng được thực hiện trên nguyên tắc hợp tác giữa các thành viên. Tổ chức này thực hiện cung cấp các dịch vụ tài chính, tiết kiệm và tín dụng cho thành viên.
Khi hoạt động của các hợp tác xã tín dụng phát triển rộng khắp trên thế giới, Chính phủ của một số quốc gia đang phát triển có sự can thiệp và tác động rất lớn vào hoạt động của các tổ chức này, dẫn đến hoạt động độc lập của các tổ chức này dần bị suy yếu và bị kiểm soát mạnh mẽ bởi Chính phủ. Ngày nay hoạt động của các hiệp hội tín dụng vô cùng đa dạng về quy mô, thành viên và phạm vi dịch vụ mà họ cung cấp. Ở Anh, hiện có khoảng 1,4 triệu thành viên hiệp hội tín dụng, trong đó có hơn 400.000 người ở Scotland. Sự hình thành và phát triển của hệ thống QTDND tại Việt Nam “QTDND là một mô hình đã được Chính Phủ chỉ đạo xây dựng và thành lập thí điểm theo Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/07/1993.
Tại thời điểm đó chưa có Luật Hợp tác xã nhưng QTD ND đã nêu cao tinh thần hợp tác, tương trợ, mang tính cộng đồng cao. Vì vậy hoạt động của các QTDND mau chóng được sự hưởng ứng tự nguyện của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Khi mới thành lập, trong thời gian 04 năm làm thí điểm; Hệ thống Quỹ tín dụng nhân 12 dân gồm ba cấp: QTD Trung ương, QTDND Khu vực và QTDND cơ sở. Sau thời gian thí điểm Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân đến 2013 còn 02 cấp QTDTW và QTDND cơ sở (QTDND Khu vực được sáp nhập vào QTDTW).
Đến nay hệ thống QTD ND chỉ còn 1 cấp là QTD ND cơ sở (QTD TW đã chuyển đổi thành Ngân hàng hợp tác xã)” (Nguyễn Trung Bắc, 2015, Trang 10). Sau gần 30 năm được thí điểm thành lập và hoạt động, đến nay hệ thống QTDND đã mang lại hiệu quả hết sức thiết thực: Huy động nguồn vốn của dân cư, thực hiện cho vay thành viên trong cộng đồng để mở rộng sản xuất, kinh doanh, phát triển ngành nghề, dịch vụ, cải thiện đời sống, nâng cao vật chất và tinh thần cho người dân, tạo công ăn việc làm cho người lao động; góp phần đẩy lùi, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, tín dụng đen ở nông thôn; góp phần vào sự ổn định về an ninh, chính trị; phát triển kinh tế địa phương ở những địa bàn có hoạt động của QTDND. QTDND là Tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân, hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức HTX để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD và Luật HTX nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống, không vì mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động của hệ thống các QTDND còn nhiều khó khăn do quy mô còn nhỏ, năng lực tài chính thấp, địa bàn hoạt động hạn chế, khả năng cạnh tranh kém, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ còn nhiều yếu kém nên tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động, trường hợp xảy ra đổ vỡ thì gặp rất nhiều khó khăn trong hệ thống, không chỉ về mặt kinh tế mà còn liên quan đến chính trị - xã hội.
Tuy nhiên, trải qua quá trình hình thành và phát triển, có thể khẳng định hoạt động của các QTDND đã đạt được những kết quả quan trọng và đóng vai trò nòng cốt cho sự phát triển kinh tế kinh tế nói chung và hệ thống tài chính, ngân hàng nói riêng, nhất là góp phần phát triển kinh tế ở những khu vực vùng sâu, 13 vùng xa, địa bàn nông nghiệp, nông thôn còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế và đời sống. Qua gần 30 năm hoạt động và phát triển, đến nay hệ thống QTDND đã phát triển lớn mạnh với mô hình 2 cấp bao gồm: Ngân hàng Hợp tác xã với hơn 25 chi nhánh hoạt động rộng khắp 53 tỉnh, thành với nhiệm vụ điều hòa vốn hơn 1000 QTDND cơ sở, thu hút hơn 1 triệu thành viên tham gia. Mô hình quản trị của các QTDND ngày một được hoàn thiện và phát triển. Năng lực đội ngũ nhân viên, cán bộ ngày càng được nâng cao, phẩm chất và đạo đức, uy tín đối với thành viên tiếp tục được rèn luyện đảm bảo đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ được giao.
Tổ chức và hoạt động của mô hình QTDND: 2. Nguyên tắc tổ chức của mô hình QTDND: - Nguyên tắc tự nguyện: Tư cách thành viên của Hiệp hội tín dụng dành cho bất kỳ ai, tổ chức này sẽ không cho phép phân biệt đối xử trên giới tính, xã hội, chủng tộc, chính trị hoặc tôn giáo. Mọi đối tượng bao gồm các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình, các đối tượng khác nếu đủ điều kiện theo quy định đều có thể trở thành thành viên của tổ chức; cũng như có quyền xin ra khỏi tổ chức theo quy định. - Nguyên tắc kiểm soát thành viên dân chủ: Hiệp hội Tín dụng được sở hữu và kiểm soát bởi các thành viên.
Mỗi thành viên có một phiếu bầu để bầu ra Hội đồng quản trị đặt ra các chính sách, nhưng mỗi thành viên cũng được mời đóng góp ý kiến về tất cả các quyết định được đưa ra.