Chương I t Ach biệt x ã hội vẻ kinh tế LÝ LUẬN ■ VÀ KINH NemỆM m CAC NUttC I. TÁCH BIỆT XÃ HỘI VỂ KINH TẾ: S ự HÌNH THÀNH, KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT 1. Khái lược sự hình thành và phát triển của thuật ngữ tách biệt xă hội 1. Sự p h á t triển ưể khái niệm và các tiêu chỉ đánh giá vấn đề tách biệt xã hội T huật ngữ tách biệt xã hội xuất hiện lần đầu tiên ở nưốc Pháp vào những năm 1970 để phản ánh tình trạng khó khăn của một số ngưòi hoặc một sô" nhóm ngưòi nhất định - những người dễ bị tổn thướng, những ngưồi không có điểu kiện tiếp xúc với những công việc được trả lương và gặp nhiểu khó khăn để có được mạng lưối thu nhập an toàn của nhà nước phúc lợi.
Les exclus là th u ật ngữ mà ngưồi Pháp dùng để đề cập đến những cá nhân thiếu những quyền công dân thiết yếu (Les citoyens). Trong thực tế, những đối tượng này là nạn nhân của tình trạng phân biệt đối xử, hoặc bị đối xử không bình đẳng, đó là những người tàn tật, những người tị nạn. Các nhà khoa học Pháp sử dụng th u ật ngữ tách biệt xă hội vổi mục tiêu cố gắng tìm ra cách giải quyết những vấn đề về quyển công dân, và hòa hỢp xã hội. Sau khi xuất hiện ở Pháp, th u ậ t ngữ này đã thu hút được sự quan tâm rộng rãi từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Châu Âu và Mỹ.
Trong quá trìn h du nhập vào các nước khác ỏ châu Âu, đặc biệt là ở Anh, các n h à khoa học đã lý giải th u ật ngữ tách biệt xã hội một cách toàn diện hơn nhằm giúp những chính trị gia, những nhà hoạch định chính sách hiểu và có những cách tiếp cận mới đốỉ vối những vấn đề xã hội xuất hiện trong tìn h hình mới. Hiện nay, trên th ế giối, th u ậ t ngữ tách biệt xã hội được diễn giải dưói rấ t nhiều nghĩa khác nhau. Ví dụ, có những quan điểm nhìn nhận tách biệt xã hội là những vấn đề liên quan đến quyền lợi và sự hòa hỢp xă hội của những nhóm ngưòi yếu th ế (về quyền công dân của những ngưồi tị nạn) so với những cá nhân bình thưòng khác trong xã hội. Nhưng cũng có quan điểm nhìn nh ận tách biệt xã hội là những vấn đề liên quan đến đói nghèo.
Nhìn chung, những diễn giải về tách biệt xã hội thường liên quan đến các vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa. Theo Room (năm 1999), tách biệt xã hội là kkái niệm dùng đ ể nói về những con người chịu ảnh hưởng từ những sự hất lợi theo thời gian. S ự bất lợi này xảy ra bởi các cá nhân có sự giảm sút về nguồn lực và gặp khó khăn trong việc tiếp cận tới văn hóa cộng đồng nơi họ sinh sống. Do đó môĩ quan hệ của họ với xã hội bên ngoài bị đ ổ vd.
8 Theo quan điểm của Gore và Pigueiredo (năm 1997) thì tách biệt xã hội không chỉ liên quan đến tinh trạng hất bình đẳng về văn hóa, chính trị m à còn cả các vấn đề xã hội. Tách biệt xã hội không có nghĩa là một sự thay thê khái niệm về nghèo đói m à là một nhận thức đa khía cạnh và rộng rãi hơn về đói nghèo, bởi nó xem xét cả các vấn đề liên quan đến tinh trạng bị tước đoạt vật chất, tình trạng thiểu việc làm và rạn nứt trong quan hệ cộng đồng như là những thành p hần chính trong những hất lợi của con người. Trong báo cáo của SEU năm 2001, Levitas (nám 1998) cho rằng tách biệt xã hội là một thuật ngữ đề cập đến những vấn đề xảy ra đối vởi con người hay những khu vực chịu tác động tiêu cực từ sự kết hợp các vấn đề xã hội như thất nghiệp, trình độ kỹ năng việc làm yếu kém, thu nhập thấp, nhà ỏ nghèo nàn, tinh trạng tội phạm cao, sức khỏe thấp và tan vd gia đinh. TỔ chức Lao động T hế giới (ILO) nhìn nhận; ''Tách biệt xã hội đó là một quá trình m à những thành viên hay gia đinh, nhóm người (cộng đồng) bị tước đoạt những nguồn lực cần thiết cho sự tham dự vào xã hội, kỉnh tế và các hoạt động chính trị trong cộng đồng.
Nguyên nhăn của quá trinh này chính là nghèo đói và thu nhập thấp, nhưng những yếu tố khác như sự phân biệt đối xử, trinh độ giáo dục thấp và sự suy yếu môi trường sống cũng là nguyên nhãn chủ yếu gây ra tinh trạng này. Thông qua quá trình này, con người cắt đứ t m ột g m i đoạn quan trọng của cuộc sống, những người bị tách biệt xã hội gặp khó khăn trong 9 việc tiếp cận các dịch vụ, mạng lưới xã hội và những cơ hội phát triển mà hầu hết những người bỉnh thường khác trong xã hội tham gia”. Nếu sự sụp đổ của các mối liên kết xã hội là vấn đề trung tâm trong nghiên cứu tách biệt xã hội ở Pháp, thì việc tiếp cận tới thị trường lao động và những động lực khuyến khích các cá nhân là vấn đề trọng tâm trong nghiên cứu tách biệt xã hội ở những quốc gia khác như Mỹ hay Anh. Trong một xã hội có thể tồn tại những quan điểm khác nhau về sự hòa hợp xã hội và tách biệt xã hội.
Ví dụ như trưòng hợp các nhóm hồi giáo ỏ Pháp phản ứng với luật cấm con gái mang mạng che m ặt tối trường. Vấn đề tách biệt xã hội còn liên quan thiết yếu đến hoạt động của chính quyền địa phưđng cũng như các tổ chức quốc tế trong việc bảo đảm quyền thiết yếu cho con người. Nói một cách khác, một cá nhân hay một nhóm ngưòi bị tách biệt xã hội là kết quả từ những hoạt động của những nhóm người khác. Tách biệt xã hội, do đó, là kết quả của quá trình và các thể chế trong quá trình đó.
Phân tích thể chế và qụá trình tách biệt xã hội không chỉ liên quan đến việc xác định “lực lượng đốì lập”, mà còn hữu ích trong việc xác đ ịn h n h ữ n g v ấ n đề vể h òa hỢp c ũ n g n h ư n h ữ n g k h ả n ă n g tro n g việc m ỏ rộ n g p h ạ m v i c ủ a sự h òa hỢp. Ví dụ, các nghiên cứu chỉ ra rằng ỏ châu Á nhiều cô gái có ít cơ hội có được tiếp cận đầy đủ tói hệ thống giáo dục, bỏi những vấn đề liên quan đến thể chế không chính thức. Chính những thể chế phi chính thức về sự hạn chế văn 10 hóa đối vói phụ nữ đã làm cho họ bị đói nghèo và tách biệt với xã hội hiện đại. ở những quốc gia khác nhau, khái niệm tách biệt xã hội được hiểu theo những cách khác nhau.
Nghiên cứu vể tách biệt xã hội có hai nội dung trọng tâm : T hứ nhất, tách b iệt khỏi cái gì? T hứ hai, ai bị tách biệt xâ hội? Hai nội dung này và cách hiểu khác nh au ở mỗi nước có liên quan không chỉ đến các nghiên cứu về tách biệt xã hội m à còn đối vởi các chính sách giải quyết tách biệt xâ hội. Về nội dung đầu tiên: Tách biệt khỏi cái gi? Các cá nhân và các nhóm có thể bị tách biệt khỏi những thứ khác nhau như là; việc tiếp cận không thỏa đáng đến công việc, th u nhập, chăm sóc sức khỏe, nước sinh hoạt, tài sản, hay th iếu quyển công dân, quyền dân chủ, sự giao tiếp xã hội, sự kính trọng. Trong nghiên cứu của các nhà xã hội học, những tiêu chuẩn khác nhau về sự tách biệt xã hội có mốì liên hệ vối nhau. Thu nhập thấp thường liên quan đến tình trạn g không có việc làm, hay là có việc làm nhưng không ổn định (những yếu tố đầu vào gây ra tìn h trạn g tách biệt xã hội), nhưng nó cũng liên quan đến tình trạn g nhà ở không thỏa đáng, tình trạ n g sức khỏe không tốt, hay những vấn để tâm lý (những yếu tố là kết quả của tách biệt xâ hội).
Nghiên cứu của Paugam ở Pháp chỉ ra rằng, những ngưòi m ất việc làm không chỉ bị giảm thu nhập mà còn có khả nâng gặp phải các vấn để về quan hệ với gia đình và bạn bè và cảm th ấy không đủ tư cách về địa vị xã hội. 11 Nghiên cứu của W ilkson ở Anh chỉ ra rằng: tìn h trạng sức khỏe không tô't thường gắn liền với những công việc không an toàn và có cảm giác không có quyền lực. Một công bô" gần đây của T ru n g tâm nghiên cứu L uân Đôn chỉ ra tín h chồng chéo phức tạp của sự tách biệt xã hội bao gồm thiếu th u nhập, việc làm, nhà ỏ thỏa đáng, sức khỏe và sự an toàn ỏ nhữ ng khu vực khác nhau của Luân Đôn. Về nội dung thứ hai: A i bị tách biệt xã hội? Nhóm ngưòi nghèo, th u nhập th ấ p thưòng là nhóm có nguy Cờ chịu nhiểu rủ i ro n h ấ t về tách biệt xã hội.
N hững cô gái nhà nghèo sông ộ nhữ ng vùng nông thôn m iền núi Nêpan có ít cơ hội tìm việc làm hơn so vói những ngưòi th an h niên bình thường khác sống trong cùng k hu vực. Trẻ em nghèo N êpan p h ải dùng nhiều thòi gian hơn so với những đứa trẻ trong các gia đình bình thưồng khi tìm kiếm việc làm trong k h u vực. Tình trạn g sức khỏe yếu và trìn h độ văn hóa không cao của người lao động là nguyên nhân gây ra sự khó k h ăn trong việc tìm việc làm, hay làm cho những ngưồi th a n h niên hoặc trẻ em nghèo phải sống trong nhữ ng ngôi nhà tồi tàn , thiếu thốn thức ăn và gặp n h iều khó k h ăn đối với sự p hát triển bình thưồng của sức khỏe. Điều này càng trỏ nên khó khăn đối vói nhữ ng vùng, m iền mà tình trạ n g sức khỏe của ngưòi lao động không tốt và tìn h trạn g dân trí thấp, không đủ để th u h ú t nguồn đầu tư từ bên ngoài nhằm tạo động lực p h á t triển , thực hiện giảm nghèo và phân biệt giối.