Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VAN DE TÁC NGHIỆP CUA NHÀ BAO TRONG ĐẠI DỊCH 1. Khái niệm đại dịch và hậu quả của đại dịch 1. Khái niệm đại dịch Theo Từ điển Dịch té học, “đại dich là một dịch bệnh xảy ra trên toàn thế giới hoặc một khu vực rất rộng, vượt qua các ranh giới quốc tế và thường ảnh hưởng đến nhiều người”. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) của Mỹ cũng đưa ra định nghĩa tương tự: “Đại dich là một dịch bệnh đã lan rộng tại một vai quốc gia hoặc lục địa, thường anh hưởng đến nhiễu người”.
Cũng theo CDC, khác với “đại dịch”, khái nệm “dich bệnh” đề cập đến sự bùng phát bệnh ở khu vực nhất định thay vì lan rộng trên toàn cầu. Khi dịch bệnh bùng phát, số ca bệnh thường tăng đột ngột, cao hơn mức dự đoán. Tổ chức Y tế Thế giới - WHO định nghĩa về đại dịch như sau: “Mot đại dịch là sự lây lan trên toàn thể giới của một căn bệnh moi”. Một căn bệnh đặc hữu phô biến và ôn định về số lượng người mắc bệnh thì đó không phải là một đại dịch.
Như vậy, dé một căn bệnh được gọi là đại dịch thì nó phải đảm bảo hai yếu tố đó là phải là một căn bệnh mới và nó phải lây lan rộng trên toàn thé giới. Như vậy, một căn bệnh không được gọi là đại dịch nếu nó chỉ lan rộng hoặc giết chết nhiều người. Chính vì vậy tuy bệnh ung thư là nguyên nhân gây ra nhiều trường hợp tử vong nhưng không được gọi là đại dịch vì đây không phải là bệnh truyền nhiễm. Một dai dich cúm xảy ra khi có một loại virus cum mới xuất hiện và lây lan khắp thế giới và hầu hết mọi người không có khả năng miễn dịch với loại virus này.
Các loại virus đã từng gây ra các đại dịch trong quá khứ đa phần có 16 nguồn gốc từ virus cúm động vật, sau đó lây lan và gây bệnh cho con người. Đại dịch cúm thường loại trừ tái phát cum theo mua. Trong suốt lịch sử loài người đã có một số đại dịch như bệnh đậu mùa, bệnh lao. Một trong những đại dịch tàn khốc nhất đó là Cái chết đen (bệnh dịch hạch) đã gây ra cái chết của 75 - 200 triệu người trong thế kỷ 14.
Một số đại dịch gần đây như HIV, cúm Tây Ban Nha, dai dịch cúm HINI. Tại buổi họp báo ngày 11-3-2020 (giờ Việt Nam), WHO chính thức tuyên bố dịch bệnh Covid-19 là đại dich toàn cầu trong bối cảnh dịch bệnh đã xuất hiện tại ít nhất 114 quốc gia và vùng lãnh thé trên thế giới, làm hơn 4.000 người tử vong. Phát biểu tại họp báo, Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus tuyên bố đây là đại dịch toàn cầu đầu tiên do virus corona gây ra. Tổng Giám đốc WHO nhắn mạnh: “Đây không chỉ đơn thuần là một cuộc khủng hoảng về sức khỏe cộng đồng, mà cuộc khủng hoảng này sẽ tác động đến tất cả mọi lĩnh vực.
Do đó, tất cả mọi lĩnh vực và mọi người đều phải tham gia cuộc chiến này”. Việt Nam với dân số 96,5 triệu người, ngưỡng an toàn dich là 970 người đang điều trị. Cũng như Cam-pu-chia, từ khi có người nhiễm Covid-19 đầu tiên (ngày 23-1-2020), lúc cao nhất Việt Nam chỉ có 178 người nhiễm đang được điều trị, sau đó giảm dần. Tức là Việt Nam có làn sóng lây nhiễm thứ nhất, đạt đỉnh ngày 30-3-2020, song chưa có dịch.
Ngày 18-6-2020, cả nước chỉ còn 10 người nhiễm đang được điều trị tại các bệnh viện. Tuy nhiên, sau hơn một tháng, từ ngày 22-7-2020, số ca nhiễm mới tăng mạnh, ngày 7-8- 2020 có 384 người đang được điều trị, gấp 2,16 lần đỉnh lây nhiễm của làn sóng thứ nhất. Việt Nam đã bước vào làn sóng lây nhiễm thứ 2. Sau 190 ngày có lây nhiễm Covid-19 mà không có người nao bị chết, chỉ 11 ngày từ ngày 31-7 đến 21 giờ ngày 10-8-2020 đã có 14 người chết.
Với tổng số người đã nhiễm đến ngày 10-8-2020 là 847 người ta thấy có khả năng khoảng từ ngày 17 15 đến 20-8-2020 sẽ có 1.000 người nhiễm và khoảng 500 người nhiễm đang điều trị ở các bệnh viện. Tức là tổng số người đang được điều trị có nguy cơ gấp gần ba lần đỉnh lây nhiễm của làn sóng thứ nhất và 10 người chết, chỉ trong bảy ngày. Lan sóng lây nhiễm Covid-19 lần thứ 2 ở Việt Nam có thé nghiêm trọng hơn lần thứ nhất rất nhiều. Làn sóng nhiễm Covid-19 lần thứ 2 ở Việt Nam, với tâm điểm là Đà Nẵng là sự khác biệt rất lớn về quy mô và tính chất so với làn sóng lần thứ nhất.
Chỉ sau 17 ngày số ca nhiễm mới phải điều trị là 384, hơn gấp hai lần đỉnh dịch lần thứ nhất là 178 ca mà vẫn chưa đạt đỉnh dịch lần 2. Đã có 14 người chết, trong khi trước ngày 22-7-2020 không có ca nao. Khi làn sóng lần thứ nhất đạt đỉnh chỉ có 178 người được điều trị, ty lệ là 1,8 người/một triệu dân, trong khi lần này, tại Đà Nẵng, tỷ lệ người điều trị là 150 người/một triệu dân, gấp 15 lần ngưỡng an toàn dich là 10 người điều trị/một triệu dân. Tuy nhiên, xét về tổng thể quốc gia và so sánh với trạng thai dich ở các châu lục hiện nay, Việt Nam là nước có mức độ lây nhiễm rất thấp.
Mức độ lây nhiễm trong cộng đồng ở Việt Nam là 9 người/một triệu dân, chưa bằng một phần hai mức lây nhiễm khi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố đại dịch toàn cầu ngày 11-3-2020, còn so với các châu lục khác, từ 550 người/một triệu dân đến 10.000/một triệu dân thì quá nhỏ bé. Với 4,5 người đang điều trị/một triệu dân thì trạng thái lây nhiễm của Việt Nam chỉ bằng gần một phần hai trạng thái thế giới khi công bố dịch (10 người/một triệu dân). Xét về tỷ lệ chết trên một triệu dân thì của Việt Nam là 0,12 người, rất thấp so với thế giới ngày 11- 3-2020 (0,6 người chết/một triệu dân). Tóm lại, về tổng thể, Việt Nam có mức độ lây nhiễm rat thấp so với thế giới và chưa phải là nước có dich Covid-19.
Tuy nhiên, khi Việt Nam bước vào làn sóng nhiễm Covid-19 lần thứ hai, từ 22-7-2020, tình hình đã rất khác và đã hình thành một tâm dịch của cả nước là Đà Nẵng. Với 132 người đã nhiễm/một triệu dân, 124 người đang 18 được điều trị ở bệnh viện/một triệu dân, 4,16 người chết/một triệu dân thì Quảng Nam - Đà Nẵng đã trở thành vùng dịch thật sự. Tỷ lệ người nhiễm/một triệu dân đã gấp 6,5 lần ty lệ khi WHO công bố dịch, tỷ lệ số người đang điều trị/một triệu dân gấp 12 lần và tỷ lệ người chết/một triệu dân gấp gần bảy lần. Số người đang được điều trị ở Đà Nẵng chiếm 75% số người của cả nước (327/435), số người chết chiếm 100%.
Trong khi đất nước Việt Nam chưa có dịch Covid-19 thì Đà Nẵng đã là vùng dịch có mức độ phát triển tương đối cao. Đây là tình huống không xảy ra tai làn sóng nhiễm Covid-19 lần thứ nhất tại Việt Nam. Dé dap dịch tại Da Nẵng và tiếp tục giữ cho Việt Nam là nước không có dịch, thái độ và phương pháp phòng, chống dịch của chúng ta với Quảng Nam - Đà Nang và các địa phương khác phải được bổ sung so với giai đoạn làn sóng lây nhiễm lần thứ nhất. Hậu quả của đại dịch Theo một nghiên cứu trên Bulletin thuộc Tổ chức Y tế Thế giới, một bệnh truyền nhiễm lây lan trên toàn thế giới có thể dẫn đến cái chết của 700.000 người và gây thiệt hại kinh tế hàng năm là 500 ty USD.
Nghiên cứu này áp dụng một mô hình lý thuyết để tính toán số người tử vong và thiệt hại kinh tế dự kiến trong các kịch bản đại dịch hiếm gặp. Đề cập đến vấn đề thương mại và đầu tư toàn cầu dưới tác động của đại dịch Covid-19, tại Diễn đàn Việt Nam và thế giới 2020 do tổ chức ngày 18/12/2020, với chủ đề: “Đại địch COVID-19 và những tác động cơ bản đối với thế giới” các nhà khoa học đã chỉ rõ, cú sốc kinh tế do đại dich Covid-19 có thé so sánh với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Nếu như trong năm 2008-2009, các Chính phủ đã can thiệp bằng chính sách tiền tệ và tài khóa để chống suy thoái và hỗ trợ thu nhập tạm thời cho các doanh nghiệp và hộ gia đình thì đối với khủng hoảng COVID-19 lần này, những hạn chế về di lại và giãn cách xã hội nham làm chậm sự lây lan của dịch bệnh đã làm cho 19 nguồn cung lao động, việc làm, giao thông — vận tải bi ảnh hưởng trực tiếp. Thêm nữa, các nganh dich vu bị đóng cửa, bao gồm khách sạn, nhà hàng, thương mại bán lẻ, du lịch, các doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản và một phan đáng kê cơ sở sản xuất bị đình trệ.
Diễn dan cũng nhấn mạnh, kinh nghiệm cho thấy từ sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, thương mại không bao giờ quay trở lại xu hướng trước đó. Khả năng phục hồi mạnh mẽ sẽ cao hơn nếu đại dịch chỉ là một cú sốc tạm thời và sớm được kiểm soát. Trong trường hợp này, thương mại có thê sớm hồi phục. Mặt khác, nếu dịch bệnh kéo dai và lan rộng, các hộ gia đình và doanh nghiệp có khả năng bị ảnh hưởng nặng nề hơn.
Sản xuất, thương mại và tiêu dùng đều bị ảnh hưởng kéo dài. Tại Việt Nam, mặc dù đại dịch Covid-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nên kinh tế, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu. Ở góc độ xã hội, Covid-19 tác động làm tăng tỷ lệ nghèo và cận nghèo về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình và người lao động. Theo kết quả khảo sát của UNDP và UN WOMEN (2020), “trong tháng 12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo là 11,3%.
Ty lệ nay tăng lên tới 50,7% trong tháng 4-2020. Tỷ lệ hộ cận nghèo tăng từ 3,83% vào tháng 12-2019 lên 6,5% vào tháng 4-2020”. Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân tộc thiểu số và hộ gia đình có lao động phi chính thức và gia đình những người nhập cư chịu tac động từ dịch bệnh lớn hơn. Cũng theo kết quả điều tra của UNDP và UN WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của các hộ gia đình dân tộc thiêu số trong tháng 4 và tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng 25,0% và 35,7% so với mức tháng 12-2019.
Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần lượt ước tính khoảng 30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinh và người Hoa.