Chương 1 đã thể hiện rõ lý do và tính cấp thiết của đề tài, xác định được mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra, sự đóng góp của đề tài cũng được chỉ ra khi tác giả lựa chọn thực hiện nghiên cứu. Cuối cùng, bố cục dự kiến của khóa luận được tóm tắt và đây sẽ là cơ sở để xây dựng các nội dung tiếp theo của khóa luận. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Cơ sở lý thuyết về nợ xấu 2. Khái niệm về nợ xấu Theo ủy ban Basel về giám sát NH: “Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn và NH thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi NH chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi.” Tại Điều 20 Thông tư 02/2013/TT-NHNN do NHNN ban hành ngày 21/01/2013 thì các khoản vay được chia thành 5 loại và nợ xấu sẽ được xác định khi các khoản nợ thuộc nhóm nợ 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), 4 (nợ nghi ngờ) và 5 (nợ có khả năng mất vốn). Một khoản vay được xác định trở thành nợ xấu khi khoản vay đó thuộc nhóm nợ 3, 4, 5 và quá hạn thanh toán trên 90 ngày. Nợ xấu là các khoản nợ của KH khi không thực hiện đúng trách nhiệm trả nợ theo hợp đồng vay với NH.
Các khoản nợ sẽ được xem là nợ xấu khi KH không thực hiện việc trả lãi và gốc theo quy định trên 90 ngày và khoản nợ của KH thuộc nhóm nợ 3, 4,5 theo quy định của NHNN. Tỷ lệ nợ xấu tại các NHTMCP Tỷ lệ nợ xấu thể hiện tỷ lệ các khoản nợ xấu chiếm bao nhiêu trong tổng dư nợ cho vay của NH. Một NH có tỷ lệ nợ xấu càng thấp thể hiện NH thực hiện tốt việc cho vay và đòi nợ đảm bảo mức an toàn vốn theo quy định của NHNN. Khi tỷ lệ nợ xấu thấp thì NH đang hoạt động tốt, tài chính ổn định khi nợ được thu hồi đúng hạn, hoạt động tín dụng được triển khai tốt mang lại lợi nhuận cho NH.
𝑁𝑃𝐿𝑖𝑡 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑥ấ𝑢⁄𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 Theo các nghiên cứu của Vodava (2011), Vũ Thị Hồng (2015), Vũ Cẩm Nhung và cộng sự (2023) thì tỷ lệ nợ xấu tác động cùng chiều đến khả năng thanh khoản. Khi tỷ lệ nợ xấu tăng lên thì NH sẽ có xu hướng gia tăng tài sản thanh khoản để phòng 8 trường hợp khi NH mất cân bằng tài chính có thể dùng tài sản thanh khoản để bù đắp các khoản ngắn hạn để phòng rủi ro. Cơ sở lý thuyết về VCSH 2. Khái niệm về VCSH Theo khoản 1 điều 66 của Thông tư 200/2014/TT-BTC Luật Kế toán: “Vốn chủ sở hữu là phần tài sản thuần của doanh nghiệp còn lại thuộc sở hữu của các cổ đông, thanh viên góp vốn (chủ sở hữu)”.
Vốn chủ sở hữu là nguồn quan trọng đối với các hoạt động kinh doanh, tài chính của NH, là công cụ để đảm bảo cho các hoạt động dài hạn cho NH và các TCTC. Vốn chủ sở hữu là nguồn đầu tư của các chủ NH bao gồm cổ phiếu, các khoản dữ trữ, lợi nhuận không chia, …theo Rose (2012). Vốn chủ sở hữu là lá chắn cho NH trước những thay đổi của nền kinh tế, là khoản để bù đắp cho các tổn thất, thể hiện được khả năng chịu đựng rủi ro của NH và giúp các hoạt động kinh doanh, tạo lợi nhuận cho NH. Tỷ lệ Vốn chủ sở hữu (CAP) 𝐶𝐴𝑃𝑖𝑡 = 𝑉𝐶𝑆𝐻 ⁄𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Tỷ lệ VCSH được xác định bằng tỷ lệ giữa VCSH trên tổng tài sản, thể hiện khả năng tài trợ của VCSH cho hoạt động tài chính của NH.
Một NH có tỷ lệ VCSH càng cao thì khả năng thanh khoản sẽ càng cao. Điều này chứng tỏ, NH có khả năng dự phòng cho các rủi ro về thanh khoản, phản ánh hoạt động về tài chính của NH tốt qua cho vay KH hay phản ứng kịp thời với các tình huống như đảm bảo đáp ứng kịp thời các khoản tiền gửi của KH. Điều này làm mức độ tin cậy của KH với NH ngày càng cao sẽ thu hút được nhiều nguồn đầu tư và huy động tiền gửi từ KH. Điều này đã được thể hiện qua một số nghiên cứu của Ahmad & Rasool (2017), Vodová (2013), Abdelmagid (2020), Vũ Thị Hồng (2015).
Tuy nhiên, các thị trường kinh tế khác nhau, thời gian khác nhau thì tỷ lệ VCSH có tác động ngược chiều phản ánh qua nghiên cứu của Moussa (2015), Nguyễn Thị Ngọc Diệp & Nguyễn Thanh 9 Lâm (2016) hay Vũ Thị Cẩm Nhung & cộng sự (2023). Mối tương quan ngược chiều thể hiện NH có thể lý giải do nguồn vốn chủ yếu của NH là tiền gửi từ KH và đây là khoản tiền có sự thay đổi liên tục từ KH nên dẫn đến tình trạng thanh khoản kém khi mà NH thường sử dụng vốn để thực hiện đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản thấp. Cơ sở lý thuyết về khả năng thanh khoản 2. Khái niệm về thanh khoản NH Thanh toán Quốc tế (BIS, 2008) định nghĩa: “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng để tài trợ cho phần tăng tài sản và đáp ứng nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, mà không gây thiệt hại, tổn thất cho NH.” Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát NH (Basel Committee on Bank Supervision, 2008): “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức”.
Theo đó, ta có thể hiểu như sau thanh khoản là khả năng giải ngân thanh toán với chi phí thấp nhất khi phát sinh nghĩa vụ đã cam kết trước đó. Việc này thể hiện các tiếp cận và sử dụng nguồn vốn hiệu quả của NH. Một NH có tính thanh khoản cao đồng nghĩa với việc NH có khả năng chuyển đổi tài sản với chi phí thấp và thời gian chuyển đổi nhanh để đáp ứng nhu cầu của KH. Và khi một NH không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng rất dễ mất đi khả năng thanh khoản, mất cân bằng trong khả năng quản lý nguồn vốn để phục vụ cho các hoạt động NH, giảm đi lợi nhuận và hiệu quả hoạt động và đánh mất sự tín nhiệm của KH.
Đo lường về khả năng thanh khoản của Ngân hàng • Phương pháp đo lường tỷ lệ thanh khoản Ngân hàng Theo Vodová (2013) và một số các nghiên cứu trước đã sử dụng dữ liệu từ bảng CĐKT để đo lường khả năng thanh khoản như sau: 10 - Hệ số thanh khoản 𝐿1 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝐿1 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Tài sản thanh khoản gồm tiền mặt, các khoản tương đương tiền mặt, tiền gửi tại các TCTD khác, khoản vay cho các TCTD khác và tiền gửi tại NHNN. 𝐿1 thể hiện tính thanh khảo mạnh khi 𝐿1 có giá trị cao nên khi đó rủi ro thanh khoản sẽ thấp. - Hệ số thanh khoản 𝐿2 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝐿2 = 𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 Hệ số 𝐿2 thể hiện độ nhạy của NH đối với các khoản huy động tiền gửi của KH nếu 𝐿2 càng cao thì NH càng nhạy với khả năng chịu cú sốc thanh khoản. - Hệ số thanh khoản 𝐿3 𝐶ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝐿3 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Hệ số thể hiện tỷ lệ tài sản kém thanh khoản đang tồn tại trong NH.
Giá trị 𝐿3 càng lớn thì thanh khoản của ngân hàng đang kém. - Hệ số thanh khoản 𝐿4 𝐶ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝐿4 = 𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 + 𝑇à𝑖 𝑡𝑟ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 Hệ số này thể hiện các khoản nợ có tính thanh khoản cao và các khoản vay kém thanh khoản nên khi 𝐿4 có giá trị cao thì thanh khoản NH đang suy yếu. • Phương pháp đo lường khe hở thanh khoản Ngân hàng Khe hở ở đây chính là khoảng chênh lệch giữa tổng dư nợ cho vay bình quân và tổng nguồn vốn huy động bình quân thể hiện rủi ro thanh khoản trong tương lai. Điều này thể hiện ở sự chênh lệch giữa nguồn vốn và tài sản tương lai và hiện tại (Vodová, 2011).
11 Khe hở tài trợ (FGAP) = Tổng dư nợ tín dụng trung bình – Tổng nguồn vốn huy động trung bình.1) NH sẽ bị thâm hụt tài chính lớn và phải giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt và tài sản hoặc huy động từ thị trường tiền tệ việc này kéo theo sự tăng của rủi ro thanh khoản khi FGAP > 0 và khi FGAP < 0 NH nên xem xét để đầu tư hoặc mua chứng khoán đã phát hành vì khi này NH đang dư ra một khoản tiền huy động. Với phương pháp đo lương thanh khoản theo khe hở thanh khoản sẽ dựa trên dòng tiền ra và dòng tiền vào để thực hiện các nghĩa vụ tài chính phát sinh. Phương pháp khe hở thanh khoản sẽ phản ánh rõ dòng tiền cho các hoạt động hiện tại và trong tương lai của NH. Tuy nhiên, việc dự đoán dòng tiền trong tương lai mang yếu tố dự đoán chủ quan không có cách đo lường chính xác nên kết quả nghiên cứu có thể bị sai lệch.
Đối với phương pháp đo lường tỷ lệ thanh khoản của NH, dữ liệu sử dụng sẽ được lấy từ BCTC đã được kiểm toán minh bạch với công thức tính rõ ràng sẽ hạn chế về sai lệch số liệu. Tuy nhiên, các đo lường này chỉ thể hiện được một phần của thanh khoản như chỉ số 𝐿1 thể hiện khả năng thanh khoản của tài sản thanh khoản với tổng tài sản NH, 𝐿2 là khả năng thanh khoản của tài sản thanh khoản đối với tiền gửi nhưng nhờ sự khách quan với công thức tính rõ ràng và dữ liệu minh bạch thì phương pháp đo lường tỷ lệ thanh khoản được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu của Vodova (2013), Vodova (2011), Ahmad & Rasool (2017), Vũ Cẩm Nhung và cộng sự (2023). Dựa trên những lý thuyết, những nghiên cứu thực nghiệm trước Vodova (2013), để thuận tiện cho việc tìm dữ liệu nghiên cứu, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp đo lường khả năng thanh khoản với 𝐿2. Tổng quan các nghiên cứu trước Nghiên cứu ở Séc đối với các NH trong giai đoạn 2001 – 2009 đã được phân tích bới tác giả Vodová (2011) với phương pháp hồi quy dữ liệu bảng.
Bài nghiên cứu của tác giả Vodavá đã chỉ ra tỷ lệ VCSH, tỷ lệ nợ xấu, lãi suất liên NH và lãi suất cho vay 12 trên thị trường có sự tác động cùng chiều đến khả năng thanh khoản.