Chương 1: Giới thiệu - Chương 2: Khung lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm về tác động của biến động tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại. - Chương 3: Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận và khuyến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 16 - CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 2.1 Khung lý thuýêt: Điều kiện Marshall - Lerner và hiệu ứng đường cong chữ J. Alfered Marshall và Abba Lerner (1944) cho rằng sự phá giá hoặc làm mất giá đồng nội tệ sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Khi một quốc gia giảm giá trị đồng tiền của mình sẽ làm cho hàng hóa sản xuất trong nước để xuất khẩu trở nên rẻ hơn và hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt hơn từ đó làm giảm nhu cầu nhập khẩu.
Hai tác giả Marshall và Lerner đã phát biểu rằng, để cho việc phá giá tiền tệ có tác động tích cực tới thương mại, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn theo giá cả của xuất khẩu và độ co dãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1. Điều kiện này đặt theo tên của hai học giả kinh tế đã phát hiện ra nó, đó là Alfred Marshall và Abba Lerner. Phá giá đồng nội tệ dẫn tới giảm giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ, do đó nhu cầu đối với hàng xuất khẩu (ngoại nhu) tăng lên. Đồng thời, giá hàng nhập khẩu định danh bằng nội tệ trở nên cao hơn, làm giảm nhu cầu đối với hàng nhập khẩu.
Hiệu quả ròng của phá giá đồng nội tệ đối với cán cân thương mại tùy thuộc vào các độ co dãn theo giá. Nếu hàng xuất khẩu co dãn mạnh theo giá, thì tỷ lệ tăng lượng cầu về hàng hóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá; do đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng. Tương tự, nếu hàng nhập khẩu co dãn theo giá, thì chi cho nhập khẩu hàng hóa sẽ giảm. Cả hai điều này đều góp phần cải thiện cán cân thương mại.
Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, hàng hóa thường không co dãn theo giá cả trong ngắn hạn, bởi vì thói quen tiêu dùng của người ta không thể thay đổi dễ dàng trong ngắn hạn. Do đó, điều kiện Marshall-Lerner không được đáp ứng, dẫn tới việc phá giá tiền tệ chỉ làm cho cán cân thanh toán trong ngắn hạn xấu đi. Trong dài hạn, khi người tiêu dùng đã điều chỉnh được thói quen tiêu dùng của mình theo giá mới, cán cân thanh toán mới được cải thiện. Nghiên cứu của Keshab R.
Bhattarai và Mark K. Armah (2005) cho thấy trong ngắn hạn, ước tính xuất khẩu và độ co giãn nhập khẩu có liên quan đến tỷ giá hối đoái thực tế không đáp ứng các điều kiện Marshall – Lerner - Robinson. Vì vậy, bất kỳ sự mất giá danh nghĩa của đồng nội tệ đều làm suy yếu cán cân thương mại ít nhất là trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 17 - ngắn hạn đến trung hạn. Về lâu dài, kết quả cho thấy một mối quan hệ tuyến tính ổn định tồn tại trong xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại.
Theo kết quả nghiên cứu của Krugman (1991)5, đường cong J là một đường mô tả hiện tượng cán cân thương mại bị xấu đi trong ngắn hạn và chỉ cải thiện trong dài hạn. Đường biểu diễn hiện tượng này giống hình chữ J, vì ban đầu cán cân vãng lai xấu đi, sau đó khoảng hai năm cán cân vãng lai đã được cải thiện. Các lý luận kinh tế học nói rằng khi phá giá tiền tệ, giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ trở nên thấp đi trong khi giá hàng nhập khẩu định danh bằng nội tệ tăng lên. Vì thế, đất nước sẽ tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu.
Kết quả là cán cân vãng lai (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) sẽ được cải thiện. Tuy nhiên, trong thực tế, về phía cầu, hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra dựa trên các hợp đồng, vì thế lượng hàng xuất nhập khẩu không thay đổi đồng thời với thay đổi giá cả (do tỷ giá thay đổi). Còn về phía cung, việc điều chỉnh trang thiết bị sản xuất để sản xuất thêm hàng xuất khẩu cũng cần phải có thời gian. Nói một cách khác, nguyên nhân xuất hiện đường cong J là do trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả có tính trội hơn hiệu ứng số lượng nên làm xấu đi cán cân thương mại, ngược lại trong dài hạn, hiệu ứng số lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được cải thiện.
Một số nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tác động lên cán cân thương mại trong lý thuyết hiệu ứng đường cong J, đó là: - Năng lực sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu (cung không co giãn) - Tỷ trọng hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu - Tỷ trọng hàng nhập khẩu trong giá thành hàng sản xuất trong nước. - Mức độ linh hoạt của tiền lương. - Tâm lý người tiêu dùng và thương hiệu quốc gia của hàng hóa trong nước(cầu hàng hóa trong ngắn hạn có độ co giãn thấp hơn dài hạn). Tóm lại, chính sự thay đổi giá cả và thay đổi khối lượng hàng hóa không diễn ra đồng thời là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng đường cong chữ J.
Các bằng chứng thực nghiệm: 5 Người đã tìm ra hiệu ứng đường cong J khi phân tích cuộc phá giá đô la Mỹ trong thời gian 1985 –1987 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 18 - Cho đến thời điểm hiện nay, đã có khá nhiều nghiên cứu thực nghiệm kiểm chứng lý thuyết về đường cong chữ J và điều kiện Marshall Lerner, cụ thể như : Moffett (1989) kiểm chứng thực nghiệm cho giá thương mại (giá xuất khẩu và nhập khẩu) và số lượng (số lượng xuất khẩu và nhập khẩu) của Hoa Kỳ để xác định xem đường cong chữ J có tồn tại hay không trong giai đoạn 1967 đến 1987. Báo cáo kết quả chỉ ra rằng, đồng USD giảm giá dẫn đến số lượng hàng nhập khẩu giảm đi, nhưng lại giảm đồng thời với số lượng xuất khẩu. Theo lý thuyết đường cong chữ J, đồng USD giảm giá dẫn nhập khẩu giảm và tăng xuất khẩu. Tuy nhiên, xuất khẩu lại giảm trong trường hợp này và có dạng giống như sóng sin chứ không phải là một hình dạng chữ J.
Nghiên cứu của tác giả Olugbenga Onafowora (2003) , đại học Susquehann về mối quan hệ tỷ giá và cán cân thương mại ở Đông Á - hiệu ứng đường cong chữ J. Đây là nghiên cứu xem xét ngắn hạn và dài hạn của hiệu ứng tỷ giá hối đoái thực lên cán cân thương mại của 3 quốc gia ASEAN trong thương mại song phương với Mỹ và Nhật Bản bằng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM). Mặc dù có sự biến đổi trong kết quả, nhưng xét tổng thể thì nghiên cứu này vẫn tiến tới đề nghị là neo giữ đồng nội tệ trong dài hạn mặc dù bị ảnh hưởng bởi tác động của hiệu ứng đường cong chữ J trong ngắn hạn…. Cụ thể, nghiên cứu tìm thấy trong thương mại song phương giữa Indonesia, Malaysia với Mỹ, Nhật Bản và giữa Thái Lan với Mỹ có hiệu ứng đường cong chữ J trong ngắn hạn.
Với sự giảm giá của tỷ giá hối đoái ban đầu dẫn đến sự trì trệ trong cán cân thương mại ở 4 quý (trong ngắn hạn), nhưng lại được cải thiện đáng kể trong dài hạn. Thái Lan đối diện với biến động trong cán cân thương mại song phương với Nhật: một sự giảm giá đột ngột trong tỷ giá hối đoái ban đầu giúp cán cân thương mại được cải thiện rồi thâm hụt và sau đó lại được cải thiện. Tóm lại, theo kết quả nghiên cứu là nên neo giữ đồng nội tệ trong dài hạn với mức độ biến đổi của hiệu ứng đường cong J trong ngắn hạn. Những tìm kiếm này có nhiều ứng dụng cho cán cân của những quốc gia khu vực Đông Á với Nhật và Mỹ.
Điều căn bản đó là tiếp tục giảm giá tiền tệ của các quốc gia Đông Á so với đồng USD và Yên Nhật để có thể dẫn đến một sự cải thiện trong cán cân thương mại của họ với Nhật và Mỹ. Dù thế nào đi nữa thì sự cải thiện này cũng sẽ xảy ra chỉ trong 3 hoặc 4 thời kỳ sau khi có sự giảm giá thực sự. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 19 - Ahmad và Yang (2004) đã kiểm tra giả thuyết của hiệu ứng đường cong J trong thương mại song phương của Trung Quốc với các nước G-7. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có hiệu ứng đường cong chữ J.
Nghiên cứu của Pavle Petrović và Mirjana Gligorić (2010) về đề tài “Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại – Hiệu ứng đường cong chữ J”. Nghiên cứu cho thấy rằng việc giảm giá trị đồng nội tệ ở Serbia sẽ làm cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn và tạo ra một hiệu ứng đường cong chữ J trong ngắn hạn. Kết quả này đã củng cố thêm các bằng chứng thực nghiệm về lý thuyết đường cong chữ J và việc đã tồn tại cho một tập hợp đa dạng các yếu tố của nền kinh tế tác động lên cán cân thương mại. Trong quá trình nghiên cứu Pavle Petrović và Mirjana Gligorić đã sử dụng phương pháp phân tích đồng liên kết của Johansen và tự hồi quy theo độ trễ để ước tính sự tự hiệu chỉnh trong dài hạn các tác động của tỷ giá đến việc cải thiện cán cân thương mại.
Kết quả mô hình ECM6 đã cho thấy, các diễn biến ngắn hạn tuân theo quy luật đường cong chữ J. Những kết quả này rất có ý nghĩa trong việc hoạch định chính sách ở Serbia và trong một số nước mới nổi ở châu Âu khi các quốc gia này phải đối mặt với những điều chỉnh tỷ giá sau cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 2009.1 Nghiên cứu về diễn biến tỷ giá và tác động tới cán cân thương mại trong ngắn và dài hạn Khim-Sen Liewa, Limb Kian-Ping và Huzaimi Hussainc (2000) với đề tài “Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại quan hệ - Kinh nghiệm của các nước Asean”. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thay đổi tỷ giá hối đoái có tác động đáng kể và trực tiếp đến cán cân thương mại. Bằng cách kiểm tra các cân đối thương mại giữa các nước ASEAN 5 và Nhật Bản trong giai đoạn từ 1986 đến 1999.
Nghiên cứu này cho thấy rằng vai trò của thay đổi tỷ giá đến thay đổi trong cán cân thương mại đã được phóng đại.