Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi và đóng góp nghiên cứu. Chương 2: Trình bày tổng quan lý thuyết về nguồn vốn FDI, tham nhũng và chênh lệch tham nhũng. Cuối chương 2 trình bày một số các nghiên cứu có liên quan vế mối quan hệ giữa tham nhũng và chênh lệch tham nhũng với nguồn vốn FDI. Chương 3: Trình bày khái quát các biến và nguồn thu thập dữ liệu, phương pháp, mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 4: Trình bày các kết quả chính trong nghiên cứu. Chương 5: Trình bày ngắn gọn các kết luận quan trọng từ đề tài nghiên cứu, đồng thời nêu lên một số hạn chế cũng như gợi ý để mở rộng đề tài nghiên cứu trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 CHƢƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ THAM NHŨNG VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP 2.1 Lý thuyết về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và tham nhũng 2.1 Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem là hình thức đầu tư cố định của hoạt động kinh doanh quốc tế xuyên quốc gia và được thực hiện bởi phần lớn các công ty đa quốc gia. Trong hơn hai thập kỷ gần đây, nguồn vốn FDI được sử dụng phổ biến, chủ yếu và là thành phần quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế các nước.
Hơn nữa, nguồn vốn FDI không chỉ góp phần gia tăng nguồn vốn đầu tư trong nước, nó còn tác động tích cực trong việc tăng năng suất lao động thông qua chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Tuy nhiên, nguồn vốn FDI cũng tạo ra nhiều tác động tiêu cực đến hệ thống kinh tế chính trị xã hội như: gây ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, tạo môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh và phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty ở nước này vào nước khác bằng cách thiết lập các cơ sở kinh doanh hay các doanh nghiệp ở nước khác. Cá nhân hay tổ chức nước ngoài sẽ nắm quyền sở hữu tối thiểu bằng 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
Theo Hiệp hội Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD), nguồn vốn FDI bao gồm nguồn vốn cung cấp bằng hình thức trực tiếp hay thông qua các công ty nước ngoài, hoặc bao gồm là nguồn vốn mà các công ty trong nước nhận được từ doanh nghiệp FDI. Nguồn vốn này bao gồm ba thành phần chủ yếu là vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã đưa ra khái niệm khá hoàn chỉnh về nguồn vốn FDI như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước đầu tư) có tài sản ở một nước khác (nước nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt nguồn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 vốn FDI so với các nguồn vốn hay công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là “công ty con” hay còn gọi là "chi nhánh công ty”. Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư trực tiếp và chủ đầu tư là cá nhân hay tổ chức của một nước đem vốn bằng tiền hay bất kỳ tài sản khác như: máy móc, thiết bị khoa học công nghệ,… đầu tư vào các nước khác. Theo đó, các nhà đầu tư sẽ nắm giữ quyền sở hữu, quản lý và kiểm soát hoạt động đầu tư tại quốc gia nhận đầu tư với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được biểu hiện dưới các hình thức sau: Doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Hợp đồng hợp tác kinh doanh Đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A) 2.2 Tham nhũng Trong nghiên cứu Tanzi (1998) cho rằng tham nhũng là sự lạm dụng quyền lực ở khu vực công để sở hữu / chiếm đoạt lợi ích dành cho cá nhân. Tương tự với quan điểm này, nghiên cứu Roy và Oliver (2009) cho rằng tham nhũng là hành động cố tình không tuân thủ các nguyên tắc công minh nhằm trục lợi cho cá nhân hoặc cho những kẻ có liên quan tới hành động đó. Theo Tổ chức minh bạch Quốc Tế (viết tắt là TI), tham nhũng được khái quát một cách khá đầy đủ và hoàn chỉnh hơn so với các định nghĩa trước đây. Tham nhũng được trình bày một cách tổng quát đó chính là: “hành vi lạm dụng chức vụ, quyền lực hoặc cố ý làm trái pháp luật để trục lợi cho bản thân” (theo báo cáo đo lường mức độ nhận thức về tình trạng tham nhũng TI, 2010).
Trong các báo cáo thường niên, tổ chức này đều công bố chỉ số đo lường mức độ tham nhũng hay còn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 gọi là chỉ số cảm nhận tham nhũng (viết tắt là CPI) của các quốc gia trên thế giới. Chỉ số CPI nhằm đánh giá khách quan mức độ tham nhũng của các nước thông qua hình thức khảo sát bằng bảng câu hỏi đối với các cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước đối với mức độ tham nhũng của nước đó. Theo nghiên cứu Habib và Zurawicki (2002); Cuervo- Cazurra (2006, trang 807); Godinez và Liu (2014) cho rằng tham nhũng được xem là một giao dịch giữa hai bên tư nhân và khu vực công thông qua việc các cán bộ công nhân viên chức lạm dụng quyền lực công để trục lợi cá nhân để thực hiện một số giao dịch có lợi cho bên tư nhân nhưng đồng thời mang lại lợi ích cho chính bản thân mình.3 Chênh lệch tham nhũng Trên cơ sở nội dung kiến thức từ ngành khoa học xã hội và bộ môn kinh doanh quốc tế đã làm xuất hiện thuật ngữ chênh lệch hay khoảng cách. Chênh lệch được xem như là sự khác biệt trong cùng một chỉ tiêu nhưng khác chủ thể.
Thuật ngữ chênh lệch này xuất hiện trong tất cả các lĩnh vực như: chênh lệch tâm linh như nghiên cứu Johanson và Vahlne (1977), chênh lệch văn hóa như nghiên cứu Shenkar (2001), chênh lệch thể chế trong nghiên cứu Schwens và cộng sự (2011) và chênh lệch tham nhũng trong nghiên cứu Godinez và Liu (2014). Mỗi quốc gia luôn luôn tồn tại sự khác nhau đáng kể về chênh lệch thể chế. Nghiên cứu Tihanyi và cộng sự (2005) cho rằng sự khác biệt chênh lệch thể chế giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư là do hoạt động đầu tư trong môi trường mới với các chi phí hoạt động như: chi phí tài chính và chi phí chìm mà các công ty đa quốc gia phải gánh chịu. Cả hai sự khác biệt giữa các nước đầu tư và nước nhận đầu tư có ảnh hưởng đáng kể đến công ty đa quốc gia khi tiến hành các hoạt động đầu tư ở nước ngoài vì nó làm tăng chi phí giao dịch và rủi ro liên quan đến việc hoạt động trong một môi trường kinh doanh mới, Brouthers (2001).
Chênh lệch thể chế giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư thì rất đa dạng và phức tạp. Chính sự đa dạng và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 phức tạp đó gây ra một số hạn chế nhất định như lựa chọn dạng chênh lệch thể chế cho phù hợp. Nghiên cứu Eden và Miller (2004) cho thấy sự khác biệt phổ biến và duy nhất tồn tại trong chênh lệch tham nhũng ở khu vực công giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư. Theo đó, nghiên cứu đã tập trung vào chênh lệch thể chế, cho dù nước đầu tư hoặc nước nhận đầu tư có thể chế mạnh hơn và nó ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các chiến lược quyền sở hữu của các công ty đa quốc gia.
Theo lý thuyết hiện đại đã giải thích khi có sự khác biệt lớn giữa mức độ tham nhũng ở hai nước đầu tư và nước nhận đầu tư, nghiên cứu Habib và Zurawicki (2002) cho thấy rằng nguồn vốn FDI sẽ bị cản trở. Cũng theo nội dung nghiên cứu này ngoài yếu tố chênh lệch tham nhũng, nguồn vốn FDI còn bị ngăn cản bởi nhiều chênh lệch khác nữa. Tương tự với quan niệm trên, nghiên cứu của Godinez và Liu (2014) cũng đưa ra định nghĩa hẹp về chênh lệch tham nhũng được xác định dựa trên sự khác biệt ở mức độ tham nhũng giữa hai nước đầu tư và nhận đầu tư. Theo đó, chênh lệch tham nhũng được xác định bằng cách lấy mức độ tham nhũng của nước đầu tư trừ đi mức độ tham nhũng của nước nhận đầu tư.
Từ đó, chênh lệch tham nhũng được phân chia thành 2 nhóm chính: chênh lệch tham nhũng mang dấu dương và chênh lệch tham nhũng mang dấu âm nhằm phân tích tác động bất cân xứng của yếu tố chênh lệch tham nhũng đến nguồn vốn FDI. Cách tiếp cận này khá mới khi phân tích tác động chênh lệch tham nhũng đến nguồn vốn FDI trong giai đoạn hiện nay khi mà các chỉ số đánh giá tham nhũng một cách khách quan, khá đầy đủ và hoàn chỉnh cho các quốc gia trên thế giới. Chính ưu điểm của cách tiếp cận mới về chênh lệch tham nhũng trên, tác giả vận dụng vào nghiên cứu tác động của chênh lệch tham nhũng đến nguồn vốn FDI ở các nước ở khu vực châu Á Thái Bình Dương giai đoạn 2003 – 2013. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các nghiên cứu liên quan Hầu hết các quốc gia trong khu vực châu Á chiếm đa số là các nước đang phát triển.
Năm 2014, các nước trong khu vực này đã thu hút hơn 38% trong tổng nguồn vốn FDI toàn cầu (WIR 2015). Hơn nữa, xu hướng dòng chảy nguồn vốn FDI vào các nước châu Á được biết đến chính là nhờ tạo sự khác biệt so với các khu vực khác trên thế giới. Như nghiên cứu Petri (2012) xây dựng mô hình dòng chảy nguồn vốn FDI từ các nước có trình độ công nghệ cao tới các nước có trình độ công nghệ thấp. Nghiên cứu Kreinin và Plummer, 2002; Kreinin và Plummer, 2008cho thấy nguồn vốn FDI chảy vào khu vực này đã được chứng minh là tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực ở cấp vĩ mô lẫn vi mô từng công ty và chịu ảnh hưởng đáng kể bởi sự hội nhập quốc tế.