Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình thực hiện chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước, các cơ quan tiến hành tố tụng được giao nhiệm vụ trọng tâm là nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử; bảo đảm phát hiện chính xác, kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Trong các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự, giai đoạn điều tra giữ vai trò khởi đầu có ý nghĩa quyết định nhằm thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm. Trong hệ thống các biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, hỏi cung bị can là hoạt động điều tra trọng yếu, trực tiếp làm rõ sự thật khách quan của vụ án, xác định âm mưu, ý đồ, động cơ, thủ đoạn phạm tội của bị can và đồng bọn, đồng thời hỗ trợ mở rộng điều tra và phòng ngừa tội phạm hiệu quả.

Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy, hoạt động hỏi cung bị can là cuộc đấu trí phức tạp giữa điều tra viên và bị can. Để đạt được hiệu quả, điều tra viên không chỉ cần nắm vững pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức mà còn phải nắm bắt đặc điểm tâm lý của bị can, từ đó lựa chọn phương pháp tác động tâm lý thích hợp. Hoạt động tác động tâm lý nhằm triệt tiêu các động cơ khai báo tiêu cực (ngoan cố, phản cung, khai man, che giấu đồng bọn), khơi dậy động cơ tích cực, thúc đẩy thái độ thành khẩn, phục vụ công tác cảm hóa và giáo dục người phạm tội. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và lý luận đó, tác giả Lưu Vũ Minh Anh đã lựa chọn đề tài "Tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can" làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tâm lý học tư pháp tại Trường Đại học Luật Hà Nội (2023).

Văn bản khóa luận xác định mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng về tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can; trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm rõ khái niệm, đặc điểm tâm lý của việc tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can và hệ thống các phương pháp tác động tâm lý.
    2. Phân tích thực trạng áp dụng các phương pháp tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can thông qua các vụ án thực tế.
    3. Đề xuất một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can.
  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện của các phương pháp tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào cơ sở lý luận dưới góc độ tâm lý học tư pháp, các phương pháp tác động tâm lý và thực trạng áp dụng các phương pháp này trong quá trình hỏi cung bị can theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết tâm lý học tư pháp, khoa học điều tra hình sự và các quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành:

  • Cơ sở pháp lý và khái niệm:

    • Quy định về địa vị pháp lý của bị can theo Khoản 1 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • Khái niệm Tác động tâm lý được tiếp cận theo định nghĩa của PGS. Đặng Thanh Nga (2019): là quá trình hoạt động có kế hoạch, có tổ chức của một cá nhân hoặc một nhóm người nhằm làm thay đổi, biến đổi đặc điểm tâm lý của người khác hoặc nhóm người khác để đạt mục đích nhất định.
    • Khái niệm Hỏi cung bị can tiếp cận theo định nghĩa của PGS. Đặng Thanh Nga (2003): hoạt động điều tra do điều tra viên tiến hành, sử dụng các biện pháp tác động đến tư duy, tình cảm, ý chí của bị can theo quy định pháp luật thông qua giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai.
    • Khái niệm Tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can (Đặng Thanh Nga, 2020): hệ thống các tác động có tổ chức, mục đích, kế hoạch của điều tra viên đối với bị can nhằm chuyển biến, thay đổi các đặc điểm tâm lý của họ, đáp ứng yêu cầu cụ thể của hoạt động hỏi cung.
    • 06 nguyên tắc cơ bản trong tác động tâm lý: (1) Tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật; (2) Chú ý tới đặc điểm tâm lý của bị can; (3) Xác định rõ mục đích, lập kế hoạch, dự đoán phản ứng; (4) Hạn chế, xóa bỏ động cơ tiêu cực, khơi dậy động cơ tích cực; (5) Nội dung và phương pháp tác động phải phù hợp với từng đối tượng bị can; (6) Chú ý tới điều kiện, hoàn cảnh tác động bên ngoài.
  • Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu. Tác giả thực hiện các thao tác phân tích - tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa và khái quát hóa các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong nước và quốc tế.

  • Nguồn dữ liệu: Các giáo trình chuyên ngành (Giáo trình Tâm lý học tư pháp, Giáo trình Khoa học điều tra hình sự, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự), các công trình nghiên cứu chuyên sâu của các tác giả Trương Công Am, Đặng Thanh Nga, Chu Văn Đức, Đặng Thị Vân, Nguyễn Thị Hà, Trần Thị Thanh; kỷ yếu hội thảo khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội (2020); các bài viết trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Nghề Luật, Báo Công an nhân dân và tài liệu hồ sơ các vụ án hình sự điển hình đã được công bố công khai.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về tâm lý học tư pháp liên quan đến hoạt động hỏi cung. Tác giả phân tích vị trí chủ đạo của điều tra viên trong việc lập kế hoạch, tạo lập điều kiện hợp pháp, điều khiển tiến trình giao tiếp và làm rõ tính chất thụ động của bị can trong quan hệ tố tụng. Chương này làm rõ 04 mục đích cốt lõi của tác động tâm lý: xác minh sự thật khách quan, khắc phục động cơ tiêu cực, kích thích tính tích cực trong trình bày lời khai và giáo dục, cảm hóa bị can. Đồng thời, tác giả luận giải 06 nguyên tắc nghiệp vụ bắt buộc, nhấn mạnh việc nghiêm cấm các hành vi bức cung, dùng nhục hình, đe dọa, xúc phạm hoặc hứa hẹn trái pháp luật.

Trọng tâm của Chương 1 là phân tích chi tiết bản chất, yêu cầu và điều kiện áp dụng của 06 phương pháp tác động tâm lý cơ bản trong hỏi cung bị can:

Tên phương pháp Bản chất tâm lý Yêu cầu kỹ thuật và phạm vi áp dụng
Truyền đạt thông tin Đưa ra các thông tin liên quan đến vụ án để tác động nhận thức, cảm xúc, ý chí của bị can. Thông tin phải xác thực, chọn lọc; giữ bí mật nguồn tin; bảo đảm yếu tố bất ngờ; tôn trọng sự độc lập phân tích của bị can. Áp dụng khi cần nâng cao nhận thức, định hướng lại tư duy sai lệch hoặc khôi phục trí nhớ.
Thuyết phục Sử dụng lý lẽ, chứng cứ, giải thích và tình cảm để bị can nhận rõ đúng sai, tự nguyện thay đổi thái độ. Gồm 04 hình thức: Thuyết phục logic, Thuyết phục tình cảm, Thuyết phục tranh luận, Thuyết phục cổ động tuyên truyền chính sách khoan hồng của pháp luật.
Đặt và thay đổi vấn đề tư duy Đưa ra các câu hỏi hướng tư duy của bị can vào các mâu thuẫn trong lời khai gian dối hoặc các sự kiện đã xảy ra. Áp dụng trong 03 trường hợp: (1) Đặt loạt câu hỏi chi tiết để làm lộ sự thiếu logic của lời khai man; (2) Câu hỏi buộc bị can liên tưởng đến sự kiện phạm tội; (3) Câu hỏi bất ngờ làm đảo lộn sự chuẩn bị đối phó. Tránh dùng khi bị can hoảng loạn, khủng hoảng tâm lý.
Ám thị gián tiếp Đưa ra thông tin, câu hỏi về các sự kiện đời tư, bí mật cá nhân gián tiếp để bị can hiểu ĐTV đã nắm rõ vụ án. Thông tin phải chính xác, tế nhị, không mang tính soi mói hay chạm vào nỗi đau; ĐTV giữ thái độ điềm tĩnh, cương quyết; triệt để cách ly thông tin giữa bị can với đồng bọn bên ngoài.
Giao tiếp tâm lý có điều khiển ĐTV chủ động thiết lập, dẫn dắt và điều khiển tiến trình giao tiếp kết hợp quan sát phản ứng vi mô (cử chỉ, ánh mắt, sắc diện). ĐTV nghiên cứu kỹ nhân thân, tạo không khí tin cậy, phá bỏ rào cản phòng thủ; bắt đầu từ các chủ đề đời sống thông thường trước khi chuyển sang nội dung vụ án; luôn giữ vững thế chủ động.
Mệnh lệnh Biện pháp cưỡng chế tâm lý dựa trên thẩm quyền pháp luật, yêu cầu đối tượng thực hiện hoặc chấm dứt hành vi nhất định. Áp dụng khi bị can có hành vi chống đối, vi phạm nội quy buổi hỏi cung; bảo đảm tính nghiêm minh và khuôn khổ pháp luật cho phép.

Chương 2: Thực tiễn tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can

Chương 2 đánh giá thực trạng áp dụng các phương pháp tác động tâm lý trong công tác điều tra hình sự tại Việt Nam, chỉ ra các tồn tại như: một số cán bộ điều tra còn lúng túng trong xác định thời điểm, hình thức tác động; cung cấp thông tin thiếu chính xác; thậm chí còn biểu hiện bức cung, áp đặt. Tiếp đó, tác giả phân tích sâu việc vận dụng từng phương pháp thông qua các vụ án hình sự điển hình:

Phương pháp tác động Vụ án thực tiễn minh họa Diễn biến và thao tác nghiệp vụ của Điều tra viên
Truyền đạt thông tin Vụ án Nguyễn Hải Dương (giết 6 người, cướp tài sản tại Bình Phước) ĐTV đưa ra các chứng cứ kỹ thuật về sim rác và tài liệu chứng minh Dương xuất hiện tại hiện trường, đập tan lời khai ngoại phạm chuẩn bị sẵn, khiến bị can suy sụp và khai nhận toàn bộ hành vi.
Thuyết phục Vụ án Năm Cam và đồng bọn (đối với bị can Nguyễn Văn Hải - Hải "bánh") Thiếu tá Nguyễn Văn Nên kết hợp thuyết phục tình cảm (tặng quần áo, đồ dùng cá nhân, khai thác tình cảm với con) và thuyết phục logic (chỉ rõ thời hạn tạm giam còn 72 giờ, cơ hội cuối cùng lập công chuộc tội trong vụ sát hại Dung Hà).
Đặt và thay đổi vấn đề tư duy Vụ án Trịnh Minh Thực (hiếp dâm, giết người); Vụ án Dương Văn Khánh (Khánh "trắng" - 1991); Vụ án trộm 12 viên kim cương của bà H - ĐTV Hoàng Văn Học hỏi xoáy vào các vết cào trên tay Thực, làm lộ mâu thuẫn trong lời khai đổ lỗi cho người khác.
- ĐTV Phạm Văn Tâm khai thác dấu vết khóa số 8 ở chân nạn nhân Đạt, hướng đâm trên xích lô và bất ngờ mời thuốc lá để bắt bài thói quen thuận tay trái của Khánh "trắng".
- ĐTV hỏi người giúp việc (bà B) về giá trị của 12 viên kim cương, làm bộc lộ sự quan tâm tài sản bất thường.
Ám thị gián tiếp Vụ án Nguyễn Tiến Dũng (Dũng "mượt" - ma túy và giết người thuê tại Bình Dương) ĐTV Đỗ Ngọc Thắng và Đại úy Nguyễn Nhật Quang đặt các câu hỏi mở về mối quan hệ làm ăn với bà Lê Mỹ Danh và việc "đòi nợ trong Bình Dương", khiến Dũng hiểu ĐTV đã nắm tường tận vụ việc và tự nguyện khai báo.
Giao tiếp tâm lý có điều khiển Vụ án Đinh Hồng Phong; Vụ án Phạm Chí Thúc (vụ án thuê sát thủ ám sát tại Bình Dương, 2014) - ĐTV quan sát phản ứng biến sắc mặt khi hỏi Phong về chiếc dép rơi tại hiện trường.
- ĐTV kiên trì trò chuyện, khơi gợi tình cảm gia đình, nỗi nhớ vợ con để cảm hóa Thúc từ bỏ thái độ nhận tội thay đồng bọn.

Từ kết quả phân tích thực tiễn, tác giả xây dựng 04 nhóm kiến nghị hoàn thiện:

  1. Về nhân lực và công tác đào tạo: Bổ sung biên chế điều tra viên cho cơ sở; tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng tác động tâm lý (đặc biệt cho điều tra viên sơ cấp); đào tạo kỹ năng quan sát, lập kế hoạch hỏi cung, phân tích tâm lý bị can; nâng cao bản lĩnh chính trị và thực hiện chế độ đãi ngộ thỏa đáng.
  2. Về cơ chế kiểm tra, giám sát: Tăng cường bố trí lực lượng độc lập kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động hỏi cung nhằm phòng ngừa sai sót, ngăn chặn hành vi vi phạm tố tụng và chống bức cung, nhục hình.
  3. Về hoàn thiện hệ thống lý luận: Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hệ thống lý thuyết chuẩn mực về tâm lý học tư pháp ứng dụng trong điều tra hình sự nhằm định hướng nhận thức cho lực lượng điều tra viên.
  4. Về công tác quản lý, chỉ đạo án: Thủ trưởng, lãnh đạo cơ quan điều tra phải yêu cầu điều tra viên báo cáo chi tiết chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trước khi phê duyệt kế hoạch hỏi cung, đảm bảo tính chặt chẽ, chống bỏ lọt tội phạm và chống oan sai.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính:
    • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tác động tâm lý trong hỏi cung bị can, định hình khung 06 phương pháp tác động nghiệp vụ (truyền đạt thông tin, thuyết phục, đặt và thay đổi vấn đề tư duy, ám thị gián tiếp, giao tiếp tâm lý có điều khiển, mệnh lệnh) gắn liền với 06 nguyên tắc pháp lý - nghiệp vụ.
    • Phân tích và làm rõ cơ chế tâm lý đằng sau các diễn biến hỏi cung trong 08 vụ án hình sự điển hình (Nguyễn Hải Dương, Hải "bánh", Trịnh Minh Thực, Khánh "trắng", trộm kim cương bà H, Dũng "mượt", Đinh Hồng Phong, Phạm Chí Thúc).
    • Chỉ rõ các hạn chế còn tồn tại trong thực tiễn điều tra như sự lúng túng trong chọn thời điểm truyền đạt thông tin, việc lạm dụng biện pháp mệnh lệnh hoặc các biểu hiện áp đặt thông tin thiếu căn cứ.
  • Giải pháp và kiến nghị: Khóa luận đưa ra 04 nhóm giải pháp mang tính đồng bộ: đào tạo nâng cao năng lực tâm lý học tư pháp cho cán bộ điều tra; tăng cường cơ chế giám sát tố tụng; hoàn thiện khung lý luận khoa học; đổi mới quy trình thẩm định, phê duyệt kế hoạch hỏi cung của cấp lãnh đạo.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận tổng hợp có chọn lọc các lý thuyết chuyên sâu của các thế hệ chuyên gia tâm lý học tư pháp tại Việt Nam (Trương Công Am, Đặng Thanh Nga, Chu Văn Đức...), đồng thời làm mới nguồn dữ liệu thực tiễn bằng việc phân tích các vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trong giai đoạn gần đây dưới lăng kính khoa học tâm lý.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn phạm vi của khóa luận tốt nghiệp bậc cử nhân và tính chất bảo mật của hồ sơ điều tra, nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, sách báo chuyên ngành và các bài học kinh nghiệm từ các vụ án đã xét xử được công bố; chưa thực hiện được các khảo sát thực nghiệm định lượng trên quy mô lớn đối với đội ngũ điều tra viên tại các địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Thực hiện các đề tài nghiên cứu định lượng khảo sát thực trạng nhận thức và kỹ năng áp dụng tác động tâm lý của điều tra viên các cấp.
    • Mở rộng nghiên cứu chuyên sâu về tác động tâm lý đối với từng nhóm tội phạm đặc thù: tội phạm sử dụng công nghệ cao, người dưới 18 tuổi phạm tội, hoặc người có biểu hiện rối loạn tâm lý trong tố tụng hình sự.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Tâm lý học tư pháp, Điều tra hình sự; cán bộ điều tra, kiểm sát viên làm công tác kiểm sát điều tra vụ án hình sự.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Hệ thống phân loại 06 phương pháp tác động tâm lý cùng các điều kiện, yêu cầu áp dụng cụ thể tại Chương 1.
    • Các bài học phân tích tình huống thực tế tại Chương 2, chỉ rõ thao tác đấu tranh tâm lý, kỹ thuật đặt câu hỏi và cách thức khai thác mâu thuẫn trong lời khai của điều tra viên.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận lựa chọn định nghĩa nào làm khái niệm chuẩn cho tác động tâm lý trong hỏi cung bị can?
Khóa luận sử dụng định nghĩa của PGS. Đặng Thanh Nga (2020): Tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can là hệ thống các tác động có tổ chức, mục đích, kế hoạch của điều tra viên đối với bị can nhằm chuyển biến và thay đổi những đặc điểm tâm lý nào đó của họ đáp ứng yêu cầu cụ thể của hoạt động hỏi cung.

2. Điều tra viên phải tuân thủ những nguyên tắc bắt buộc nào khi thực hiện tác động tâm lý?
Khóa luận xác định 06 nguyên tắc cơ bản: (1) Phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật; (2) Chú ý tới đặc điểm tâm lý của bị can; (3) Phải xác định rõ mục đích, lập kế hoạch tác động tâm lý, dự đoán quá trình tác động và phản ứng của bị can; (4) Hạn chế, xóa bỏ những động cơ tiêu cực kìm hãm sự khai báo, khơi dậy và phát huy các động cơ tích cực thúc đẩy bị can khai báo; (5) Nội dung và phương pháp tác động tâm lý phải phù hợp với từng bị can; (6) Phải chú ý tới điều kiện, hoàn cảnh tác động.

3. Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy được phân chia thành những dạng trường hợp nào?
Phương pháp này gồm 03 dạng áp dụng:

  • Đặt ra một loạt câu hỏi chi tiết nhằm xác định sự thiếu rõ ràng, logic về các thông tin bị can đã khai man.
  • Đưa ra câu hỏi buộc bị can khi trả lời phải liên tưởng đến sự kiện phạm tội hoặc hành vi che giấu tội phạm.
  • Đưa ra những câu hỏi khác với sự chuẩn bị trước của bị can, làm đảo lộn kế hoạch đối phó giả tạo.

4. Trong vụ án Năm Cam, điều tra viên đã vận dụng phương pháp thuyết phục như thế nào đối với Hải "bánh"?
Thiếu tá Nguyễn Văn Nên và điều tra viên Nguyễn Tuyến Dũng đã kết hợp thuyết phục tình cảm và thuyết phục logic: chăm lo đời sống cá nhân (tặng quần áo, chăn màn, đồ dùng sinh hoạt), khai thác tình cảm của bị can đối với con; đồng thời phân tích rõ thời hạn tạm giam chỉ còn 72 giờ, chỉ ra việc khai báo về hành vi sát hại Dung Hà là cơ hội cuối cùng để lập công chuộc tội trước khi vụ án khép lại.

5. Trong vụ án Nguyễn Tiến Dũng (Dũng "mượt"), phương pháp ám thị gián tiếp được thực hiện thông qua chi tiết nào?
Đại úy Nguyễn Nhật Quang đã bất ngờ đặt các câu hỏi không trực tiếp vào vụ án ma túy mà hỏi về hoạt động "làm ăn với bà Danh" và việc "đòi nợ trong Bình Dương", khiến Dũng "mượt" nhận thức rằng cơ quan điều tra đã nắm rõ các mắt xích liên quan đến vụ tổ chức giết người thuê và quyết định khai nhận toàn bộ sự thật.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lưu Vũ Minh Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can dưới góc độ tâm lý học tư pháp và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Nghiên cứu đã làm rõ bản chất, nguyên tắc và thao tác nghiệp vụ của 06 phương pháp tác động tâm lý cơ bản thông qua việc phân tích sinh động các vụ án hình sự điển hình. Trên cơ sở nhận diện những bất cập thực tiễn, công trình đã đề xuất 04 nhóm giải pháp thiết thực nhằm nâng cao năng lực của điều tra viên, hoàn thiện thể chế giám sát và bảo đảm hiệu quả chứng minh tội phạm gắn liền với quyền con người trong hoạt động tư pháp.