Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi là biện pháp điều tra do cơ quan có thẩm quyền tiến hành nhằm thu thập thông tin, tài liệu, củng cố chứng cứ và làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự. Dưới góc độ tâm lý học tư pháp, đây là quá trình giao tiếp hai chiều và giải quyết mối quan hệ tác động qua lại giữa Điều tra viên và bị can – hai chủ thể có vị trí pháp lý và quyền lợi trái ngược nhau. Trong thực tiễn tại Việt Nam, người dưới 18 tuổi khi phạm tội thường có tâm lý hoang mang, lo sợ hoặc ngược lại là bốc đồng, bất hợp tác. Bên cạnh đó, một số Điều tra viên chưa nắm bắt có hệ thống các phương pháp tác động tâm lý phù hợp với lứa tuổi, cá biệt còn xảy ra hiện tượng bức cung, dùng nhục hình dẫn đến nguy cơ oan sai. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp "Tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi" được tác giả Phạm Thị Quỳnh (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023) thực hiện nhằm làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các phương pháp tác động tâm lý.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng về tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi, từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ khái niệm, đặc điểm tâm lý của việc tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi và các phương pháp tác động tâm lý trong hoạt động này;
  2. Phân tích thực trạng của việc tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi và việc áp dụng các phương pháp tác động tâm lý trên thực tế;
  3. Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi.
  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện của các phương pháp tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận dưới góc độ tâm lý học tư pháp, các phương pháp tác động tâm lý và thực trạng áp dụng các phương pháp này trong hoạt động hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật quốc tế và trong nước, cùng các giáo trình, công trình nghiên cứu chuyên ngành Tâm lý học tư pháp và Luật Tố tụng hình sự:

  • Hệ thống văn bản pháp lý: Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (1989); Bản quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (1990); Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 - đặc biệt là Điều 12 và Chương XII); Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Điều 60, Điều 415); Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 21); Bộ luật Lao động năm 2019 (Điều 143); Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018.
  • Khung lý thuyết và khái niệm chuyên ngành: Các định nghĩa về tác động, tác động tâm lý và chiến thuật điều tra từ các nhà khoa học: A.V. Petrovsky và M.G. Yaroshevsky (1990), L.V. Pavenko (1999), Trương Công Am (2000, 2001), Đặng Thanh Nga (2006, 2008, 2011, 2019, 2020), Chu Văn Đức (2020), Đặng Thị Vân (2020), Nguyễn Thị Hà (2020), Trần Thị Thanh (2020, 2021).
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu là chủ yếu. Phương pháp này bao gồm các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa và khái quát hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn từ giáo trình, sách chuyên khảo, tạp chí khoa học pháp lý, kỷ yếu hội thảo, báo cáo của UNICEF - Bộ Tư pháp (2019) và các hồ sơ vụ án hình sự thực tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống lý niệm và phân tích các đặc trưng tâm lý lứa tuổi, mục đích, nguyên tắc cùng hệ thống các phương pháp tác động tâm lý trong tố tụng hình sự:

  • Khái niệm và đặc điểm tâm lý của bị can dưới 18 tuổi: Bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đã bị khởi tố về hình sự. Tác giả chỉ ra 5 nét tâm lý đặc thù chi phối hành vi phạm tội và thái độ khai báo của nhóm đối tượng này:

    1. Trạng thái cảm xúc và khí chất: Quá trình hưng phấn của vỏ não chiếm ưu thế hơn quá trình ức chế, dễ bị kích động, bốc đồng. Căn cứ số liệu trích dẫn từ Đặng Thanh Nga và Trương Quang Vinh (2011), cơ cấu khí chất của người dưới 18 tuổi phạm tội gồm: khí chất nóng chiếm 72%, u sầu chiếm 21%, bình thản chiếm 4% và hăng hái chiếm 3% (minh họa qua vụ án học sinh Cao Văn Tiên đâm chết bạn học năm 2011 tại Đồng Nai do mâu thuẫn bộc phát).
    2. Nhu cầu độc lập: Thích khẳng định bản thân nhưng nhận thức chưa chín muồi, dễ dẫn đến thái độ ngông cuồng, "anh hùng rơm", phóng đại khả năng (minh họa qua vụ án Phan Văn Quang sát hại tài xế xe ôm năm 2012 tại Nghệ An do tự ái khi bị chê).
    3. Nhận thức pháp luật: Kiến thức pháp luật non nớt, ngộ nhận hành vi vi phạm là tự do cá nhân hoặc tự vệ (minh họa qua vụ án N.H.H 17 tuổi bị tuyên phạt 3 năm tù về tội cưỡng đoạt tài sản nhưng ngỡ chỉ là "xin đểu" 50.000 đồng chơi điện tử).
    4. Nhu cầu khám phá cái mới: Dễ bị lôi kéo bởi trò chơi bạo lực, nghiện game dẫn đến hành vi nguy hiểm (vụ án Mông Thế Xương 15 tuổi sát hại cháu bé 7 tuổi để cướp đôi bông tai vàng năm 2011).
    5. Hoạt động học tập: Tâm lý chán học, hổng kiến thức, lưu ban dễ dẫn tới hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật (trường hợp học sinh Trung tại Đà Nẵng).
  • Đặc điểm hoạt động hỏi cung bị can dưới 18 tuổi: Do chủ thể có thẩm quyền tiến hành (Điều tra viên phải đáp ứng tiêu chuẩn theo Điều 415 BLTTHS 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018); đối tượng tác động chưa hoàn thiện thể chất, chưa đầy đủ năng lực hành vi và có người đại diện tham gia; mục đích nhằm thu thập chứng cứ, làm sáng tỏ vụ án.

  • Mục đích và nguyên tắc tác động tâm lý:

    • 4 mục đích chính: Xác định sự thật khách quan của vụ án; khắc phục động cơ tiêu cực, khơi dậy động cơ tích cực; kích thích tính tích cực hoạt động của bị can; giáo dục, cảm hóa bị can.
    • 6 nguyên tắc bắt buộc: Tuân thủ chặt chẽ pháp luật; chú ý đặc điểm tâm lý của bị can dưới 18 tuổi; bảo đảm tính tích cực tâm lý ở bị can; nội dung và phương pháp tác động phải phù hợp với từng cá nhân; chú ý điều kiện, hoàn cảnh tiến hành; Điều tra viên phải có phẩm chất chính trị và vững vàng chuyên môn nghiệp vụ.
  • Hệ thống 6 phương pháp tác động tâm lý:

    1. Phương pháp truyền đạt thông tin: Cung cấp tài liệu, thông tin khách quan nhằm làm tăng nhận thức, khơi gợi trí nhớ hoặc làm thay đổi thái độ ngoan cố.
    2. Phương pháp thuyết phục: Tác động logic và tình cảm vào nhận thức để bị can nhận rõ đúng - sai, hậu quả hành vi và chính sách khoan hồng.
    3. Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy: Đưa ra các câu hỏi chi tiết, thay đổi góc độ tư duy nhằm làm bộc lộ mâu thuẫn trong lời khai gian dối.
    4. Phương pháp ám thị gián tiếp: Sử dụng thông tin ẩn ý, tác động gián tiếp để bị can tự suy nghĩ, liên tưởng và thay đổi hành vi mà không đụng chạm tự ái.
    5. Phương pháp giao tiếp tâm lý có điều khiển: Thiết lập bầu không khí tiếp xúc cởi mở, giải tỏa tâm lý lo sợ, kết hợp quan sát ngôn ngữ cơ thể xuyên suốt quá trình hỏi cung.
    6. Phương pháp mệnh lệnh: Sử dụng quyền lực tố tụng yêu cầu chấm dứt ngay hành vi vi phạm, đòi hỏi áp dụng thận trọng, đúng luật.

Chương 2: Thực tiễn tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi và một số kiến nghị

Chương 2 tổng kết thực trạng áp dụng, chỉ ra các vướng mắc tồn tại và đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Thực tiễn áp dụng các phương pháp tác động tâm lý:

    • Dẫn chiếu số liệu khảo sát của Trần Thị Thanh (2021), tỷ lệ Điều tra viên sử dụng phương pháp tác động tâm lý ở mức "rất thường xuyên" chiếm 20,3%, mức "thường xuyên" chiếm 80,3%.
    • Phương pháp thuyết phục: Được sử dụng phổ biến nhất. Điển hình là vụ án bắt giữ nhóm cướp tài sản dùng tuýp sắt hàn dao phóng lợn gồm 3 đối tượng N.N.Q (2004), N.M.H (2004), T.X.Q (2003) tại quận Hoàng Mai, Hà Nội (tháng 03/2019). Điều tra viên đã kết hợp mời mẹ bị can trò chuyện, khơi gợi tình cảm gia đình và người yêu, giúp các bị can từ bỏ chống đối và thành khẩn khai báo.
    • Phương pháp truyền đạt thông tin: Áp dụng hiệu quả trong vụ án N.T.A (sinh năm 2005) dùng dao rọc giấy đâm tử vong T.M.K (sinh năm 2004) tại huyện Đ.T (tháng 09/2020). Khi A hoảng loạn và cho rằng mình chỉ phòng vệ chính đáng, Điều tra viên đã truyền đạt thông tin về hậu quả tử vong, phân tích tính chất hành vi và giải thích chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi, giúp A ổn định tâm lý và nhận tội.
    • Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy: Áp dụng trong vụ án trộm cắp máy hàn, máy cắt tôn trị giá khoảng 9 triệu đồng tại xưởng cơ khí anh Q ở xã T.L, huyện Đ.T (năm 2013). Nhóm đối tượng N.N.A (1996), V.Q.V, V.T.L thống nhất lời khai ngoại phạm giả; Điều tra viên đã đặt hàng loạt câu hỏi chi tiết về mốc thời gian, vị trí đồ đạc, cách thức ngủ chung/riêng để vạch trần mâu thuẫn.
    • Phương pháp ám thị gián tiếp và đặt/thay đổi vấn đề tư duy: Thực tế ít được dùng thường xuyên hơn do đặc thù tâm lý người dưới 18 tuổi ít có sự toan tính, che giấu tinh vi như người trưởng thành.
  • Hạn chế và nguyên nhân tồn tại:

    • Hạn chế: Một số Điều tra viên chưa chú trọng tác động tâm lý, hỏi cung mang tính chất liệt kê sự vụ, nhân thân đơn thuần (như biên bản hỏi cung bị can P.M.T 17 tuổi phạm tội trộm cắp tài sản); thiếu đội ngũ Điều tra viên chuyên trách được đào tạo chuyên sâu về tâm lý học lứa tuổi; việc phân công thụ lý án tại nhiều cơ quan điều tra chưa phân tách đặc thù người dưới 18 tuổi.
    • Nguyên nhân: Năng lực của Điều tra viên cơ sở chưa đồng đều, chủ yếu là Điều tra viên sơ cấp chưa qua đào tạo tâm lý chuyên sâu trong khi khối lượng án lớn; quy định pháp luật về tiêu chuẩn "có kinh nghiệm điều tra", "được bồi dưỡng tâm lý học" tại Điều 415 BLTTHS còn mang tính định tính, thiếu hướng dẫn cụ thể về thời gian công tác và chương trình chuẩn hóa (dẫn báo cáo UNICEF - Bộ Tư pháp 2019); việc luân chuyển cán bộ diễn ra thường xuyên làm gián đoạn tính chuyên môn hóa.
  • Kiến nghị nâng cao hiệu quả:

    1. Nâng cao nhận thức của chủ thể điều tra về vai trò của tác động tâm lý; lồng ghép nội dung tâm lý học tư pháp và đạo đức nghề nghiệp vào chương trình đào tạo nghiệp vụ; ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về quy trình tác động tâm lý.
    2. Bồi dưỡng định kỳ kiến thức tâm lý học lứa tuổi, tội phạm học cho Điều tra viên; tăng cường phối hợp giữa cơ quan điều tra với các cơ sở đào tạo luật và tâm lý học thông qua hội thảo, tập huấn chuyên đề.
    3. Rèn luyện thường xuyên kỹ năng giao tiếp tâm lý, kỹ năng quan sát vi biểu cảm và nghệ thuật xử lý tình huống linh hoạt trong phòng hỏi cung.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các dữ liệu thực chứng và rút ra các kết luận khoa học quan trọng:

Tiêu chí tổng hợp Dữ liệu / Kết quả ghi nhận trong văn bản
Cơ cấu khí chất người dưới 18 tuổi phạm tội Khí chất nóng: 72% | Khí chất u sầu: 21% | Khí chất bình thản: 4% | Khí chất hăng hái: 3% (Đặng Thanh Nga, Trương Quang Vinh, 2011)
Mức độ sử dụng tác động tâm lý của Điều tra viên Mức rất thường xuyên: 20,3% | Mức thường xuyên: 80,3% (Trần Thị Thanh, 2021)
Tần suất áp dụng các phương pháp cụ thể - Thuyết phục: Sử dụng thường xuyên nhất
- Truyền đạt thông tin: Sử dụng khá thường xuyên
- Ám thị gián tiếp & Đặt/thay đổi vấn đề tư duy: Sử dụng ở mức thỉnh thoảng
Văn bản pháp lý tiêu biểu điều chỉnh Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017); Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (Điều 60, Điều 415); Thông tư liên tịch số 06/2018

Khóa luận đóng góp về mặt học thuật khi hệ thống hóa tương đối toàn diện mối quan hệ giữa đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi vị thành niên và chiến thuật hỏi cung hình sự. Khác với các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận hoạt động hỏi cung nói chung, công trình này tập trung chuyên biệt vào đối tượng bị can dưới 18 tuổi, đồng thời chỉ ra khoảng trống pháp lý trong việc định lượng tiêu chuẩn Điều tra viên chuyên trách.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo tác giả tự nhận định, đây là công trình nghiên cứu ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp đại học, kiến thức lý luận và trải nghiệm thực tiễn còn những giới hạn nhất định. Nguồn dữ liệu thực tiễn chủ yếu dựa trên các tài liệu, bài viết, báo cáo nghiên cứu và một số hồ sơ vụ án điển hình đã công bố chứ chưa thực hiện được khảo sát diện rộng trên quy mô đa địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo sát thực chứng định lượng tại nhiều cơ quan điều tra cấp huyện và cấp tỉnh; nghiên cứu xây dựng bộ quy chuẩn chi tiết về kỹ năng hỏi cung thân thiện đối với người dưới 18 tuổi nhằm phục vụ việc hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hình sự, Luật Tố tụng Hình sự, Tâm lý học Tư pháp, Tội phạm học và Điều tra tội phạm; Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư tham gia tố tụng các vụ án người chưa thành niên.
  • Nội dung giá trị nhất: Hệ thống 6 phương pháp tác động tâm lý gắn liền với 5 đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi tại Chương 1; các phân tích tình huống thực tế áp dụng phương pháp thuyết phục và truyền đạt thông tin xử lý lời khai tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo số liệu trích dẫn trong khóa luận, người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu thuộc loại khí chất nào?
Theo số liệu nghiên cứu của Đặng Thanh Nga và Trương Quang Vinh (2011) được tác giả trích dẫn, người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc khí chất nóng chiếm tỷ lệ áp đảo với 72%, tiếp theo là khí chất u sầu chiếm 21%, khí chất bình thản chiếm 4% và khí chất hăng hái chiếm 3%.

2. Trong thực tế điều tra, phương pháp tác động tâm lý nào được Điều tra viên sử dụng thường xuyên nhất đối với bị can dưới 18 tuổi?
Kết quả khảo sát thực tiễn cho thấy phương pháp thuyết phục là phương pháp được Điều tra viên sử dụng thường xuyên nhất, do đối tượng dưới 18 tuổi có nhận thức và trải nghiệm sống hạn chế, dễ bị tác động bởi tình cảm gia đình, người thân và sự phân tích đúng - sai về mặt pháp lý.

3. Khóa luận chỉ ra điểm bất cập nào trong quy định hiện hành về tiêu chuẩn Điều tra viên làm việc với người dưới 18 tuổi?
Khoản 1 Điều 415 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 yêu cầu Điều tra viên phải có kinh nghiệm hoặc được đào tạo, bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi, nhưng pháp luật hiện hành chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về thời gian công tác bao lâu thì được coi là "có kinh nghiệm", cũng như chưa chuẩn hóa nội dung, thời lượng của chương trình đào tạo chuyên môn này.

4. Điều tra viên đã áp dụng phương pháp truyền đạt thông tin như thế nào để xử lý thái độ bất hợp tác của bị can N.T.A trong vụ án giết người năm 2020?
Khi bị can N.T.A hoảng sợ, nghĩ mình chỉ tự vệ và liên tục cho rằng mình không làm gì sai, Điều tra viên đã cung cấp thông tin xác thực việc nạn nhân T.M.K đã tử vong do nhát dao của A, phân tích hậu quả pháp lý của hành vi và truyền đạt các chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, giúp bị can ổn định tâm lý và thành khẩn khai báo.

5. Vì sao phương pháp ám thị gián tiếp và đặt/thay đổi vấn đề tư duy ít được sử dụng thường xuyên đối với bị can dưới 18 tuổi?
Do đặc thù nhận thức và tâm lý lứa tuổi của người dưới 18 tuổi thường chưa hình thành tính cách toan tính, che giấu tinh vi hay lập mưu phản cung ngoan cố như bị can đã trưởng thành; phần lớn các em có thái độ khai báo phụ thuộc trực tiếp vào cảm xúc nhất thời, do đó các phương pháp tác động logic phức tạp ít khi phải kích hoạt ở mức độ cao.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Quỳnh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi dựa trên nền tảng tâm lý học tư pháp và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng áp dụng 6 phương pháp tác động tâm lý cùng các vụ án điển hình, công trình đã chỉ rõ những ưu điểm đạt được cũng như các hạn chế về chất lượng cán bộ và khoảng trống trong quy định pháp luật. Hệ thống các kiến nghị được đề xuất mang tính khả thi, góp phần nâng cao hiệu quả điều tra khám phá tội phạm, chống oan sai và bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự.