Chương 1 - Qua chương này, tác giả đã xác định nguyên nhân của việc lựa chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. - Tác giả đã sơ bộ phác thảo phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng trong bài. - Giới thiệu kết cấu luận văn để người đọc dễ theo dõi các hoạt động của nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chương 2 –CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
Cơ sở khoa học về tăng trưởng kinh tế Harrod (1939) và Domar (1946) xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tỉ lệ giữa tiết kiệm S và lượng vốn K. Tiết kiệm S được kỳ vọng được dùng vào đầu tư I. Do đó càng tiết kiệm nhiều thì đầu tư càng nhiều, điều này sẽ tác động tích cực lên mức tăng trưởng của nền kinh tế. =( ⁄ )– = ( ⁄ )− Tuy nhiên, theo mô hình tăng trưởng tân cổ điển, việc tiết kiệm bổ sung thêm không làm cho tăng trưởng tăng theo quan hệ tuyến tính mà mức độ tăng giảm dần theo quy luật lợi nhuận biên giảm dần theo vốn bổ sung.
Ngoài ra, tỉ lệ tăng dân số còn có vai trò cho phép có sự thay thế giữa vốn và lao động trong quá trình tăng trưởng. Nguồn nhân lực lại là một yếu tố có thể thay đổi nhanh chóng, có thể tạo ra những giá trị vượt trội nhờ vào việc vận dụng khả năng tư duy của mình. Baier và cộng sự (2006) cho rằng năng suất trong 40 năm, từ 1960 đến 2000, tăng chủ yếu nhờ vào TFP chứ không phải là tăng lượng đầu vào. Trong đó, yếu tố nhân lực giữ vai trò tác động bên cạnh cơ sở hạ tầng và yếu tố công nghệ.
Điều này cũng được (Lucas, 1988) khẳng định từ trước về lao động hay vốn nhân lực có thể nâng cao kỹ năng (tăng giá trị theo thời gian) thông qua hoạt động đào tạo lý thuyết và thực hành (on the job training, learning by doing) từ đó có thể tác động lên tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, Abramovitz (1993) và Eaton và Kortum (1995) đều cho rằng nhờ vào tiếp cận với các tiến bộ về công nghệ (thông qua giáo dục, học tập và sử dụng các sản phẩm và quy trình), vốn con người sẽ tăng lên trong dài hạn, dẫn đến tăng năng suất lao động. Sự gia tăng kỹ năng của vốn nhân lực không chỉ tác động trực tiếp lên việc tạo sản phẩm, dịch vụ tại doanh nghiệp, mà còn là tăng năng lực R&D. Eaton và Kortum (1995) cho rằng bằng sáng chế thể hiện đầu ra của nghiên cứu và phát triển được bảo hộ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Todaro và Smith (2012) cho rằng sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 3 nhóm yếu tố: - Tích lũy vốn bao gồm tất cả các khoản đầu tư mới trong đất, thiết bị và nguồn nhân lực thông qua cải thiện các kỹ năng y tế, giáo dục và công việc. - Tăng trưởng dân số dẫn đến tăng trưởng lực lượng lao động - Công nghệ mới 2. Lý thuyết liên quan đến tài sản trí tuệ (Cadot và Lippman, 1995; Horowitz và Lai, 1996; O'Donoghue và Zweimuller, 2004 và Scotchmer và Green, 1990) trong quá trình nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa mức bảo hộ sở hữu trí tuệ và đổi mới biểu hiện dưới dạng đường cong hình chữ U ngược. Sau đó nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích hỗ trợ cho lý thuyết này như (Furukawa, 2007; Futagami và Iwaisako, 2007; Horii và Iwaisako, 2007).
Furukawa (2010) đã phân tích lý thuyết ủng hộ sự tồn tại của đường cong hình chữ U ngược (inverted U-shape) thể hiện mối liên hệ giữa mức độ bảo hộ tài sản trí tuệ với tốc độ đổi mới như sau: - Việc tích lũy vốn con người thông qua kỹ năng, kinh nghiệm được trau dồi sẽ khuyến khích đổi mới. Tuy nhiên, khi tăng bảo hộ, việc điều chỉnh sản lượng thấp do giá cả độc quyền sẽ làm kỹ năng của người lao động giảm sút và giảm tích lũy vốn con người.1, sự gia tăng bảo hộ tài sản trí tuệ (tăng ) đến một mức độ nhất định (mức *), tốc độ đổi mới đạt mức cao nhất. Nếu mức bảo hộ vượt quá * sẽ khiến việc tích lũy vốn con người bị giảm sút, từ đó sẽ tác động tiêu cực trở lại với tốc độ đổi mới. - Hàm ý chính sách : đường này phụ thuộc vào chi phí ban đầu cho đổi mới, nếu chi phí đổi mới cao, trong khi mức độ bảo hộ quá cao hoặc quá thấp sẽ ức chế tốc độ đổi mới.
Có thể giải thích tình trạng bảo hộ sở hữu trí tuệ quá mức gây ảnh hưởng đến tốc độ đổi mới như sau: Khi tăng cường bảo hộ sẽ dẫn đển gia tăng tình trạng độc quyền. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Nhờ lợi thế độc quyền, nhà sản xuất sẽ tìm cách thu lợi nhuận độc quyền bằng cách tăng giá bán và hạn chế sản lượng. Sản lượng thấp có thể làm tăng tình trạng thất nghiệp, dẫn đến giảm sút điều kiện sống, thu nhập của người lao động. Điều kiện để học tập, rèn luyện kỹ năng của lao động bị giảm theo.
Việc giảm sút điều kiện học tập làm giảm sút khả năng sáng tạo, tạo ra sự đổi mới, gián tiếp góp phần vào việc hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia bảo hộ sở hữu trí tuệ quá mức. Bảo hộ sở hữu trí tuệ và đổi mới Nguồn: Furukawa, 2010 Maskus (1998) nhận định rằng mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm tăng trưởng. Nguyên nhân có thể là do hệ thống bảo hộ quá mức gây hạn chế lợi ích xã hội về sáng chế vì làm giảm khả năng phổ biến sản phẩm của sáng chế đó. Nhưng một hệ thống bảo hộ quá yếu có thể làm giảm sự đổi mới vì không thu hút được đầu tư.
Quan điểm này tương tự với phân tích lý thuyết hình chữ U ngược của Furukawa (2010), nhưng Furukawa (2010) tập trung vào nguyên nhân là việc tăng hay giảm vốn con người, còn Maskus (1998) đã mở rộng tác động của bảo hộ sở hữu trí tuệ tới lợi ích chung của xã hội. Trong thực tế, chúng ta có thể nhận thấy nếu một nhà sáng chế nhờ có nhiều năm kinh nghiệm, trăn trở và suy nghĩ để tìm được một giải pháp kỹ thuật mà từ trước TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 đến nay chưa ai giải quyết được vấn đề tương tự. Nhưng quá trình suy nghĩ, lao động khó khăn và lâu dài đó của nhà sáng chế không được bảo hộ nên bị người khác bắt chước và làm được ngay, thậm chí bán được nhiều sản phẩm hơn, thu được lợi nhuận cao hơn. Nhà sáng chế sẽ mất động lực tạo ra các giải pháp khác, hệ quả là toàn xã hội sẽ bị giảm sút khả năng đổi mới để tạo ra năng suất lao động cao hơn.
Như vậy, tình trạng pháp luật quá lỏng lẻo trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng đã góp phần làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Để có thể tạo được sự công bằng cho nhà sáng chế khi tạo ra tài sản trí tuệ thì việc tăng cường luật pháp để bảo hộ sở hữu trí tuệ là điều cần phải làm. Nhà sáng chế phải có trách nhiệm nhận diện các đơn vị tài sản trí tuệ của mình, lưu chứng để tạo lập tài sản và tiến hành các thủ tục để được bảo hộ. Lúc này, bảo hộ sở hữu trí tuệ mới có thể tạo ra sự công bằng cho nhà sáng chế trước toàn xã hội.
Sự công bằng cũng thể hiện ở chỗ không gây gây thiệt hại cho xã hội vì bảo hộ tràn lan. Không phải tất cả ý tưởng đều được bảo hộ. Sáng chế chỉ được bảo hộ độc quyền nếu “có tính mới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng công nghiệp”, hay bí mật kinh doanh cũng chỉ được bảo hộ nếu “không phải là hiểu biết thông thường, không dễ dàng có được, tạo được lợi thế kinh doanh cho người nắm giữ và được chủ sở hữu bảo mật …” (Điều 58 và 84, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009). Ngay cả trong trường hợp được bảo hộ, tùy tính chất và sự cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích xã hội, Pháp luật cũng có giới hạn về thời gian bảo hộ hoặc hình thức bảo hộ.
Ví dụ: Sáng chế chỉ được bảo hộ trong thời gian 20 năm kể từ ngày nộp đơn (Điều 93, luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009). Điều này cho thấy, chủ thể quyền sở hữu tài sản trí tuệ được pháp luật bảo vệ để khai thác lợi ích kinh tế từ tài sản của mình trong một khung thời gian nhất định, sau đó, các thông tin về sáng chế sẽ được cộng đồng sử dụng rộng rãi và mang lại lợi ích cho xã hội sau khi đã ưu tiên cho nhà sáng chế. Nếu sự bảo hộ này là vô hạn, thì xã hội sẽ không được hưởng lợi từ việc sáng tạo gây ảnh hưởng đến tăng trưởng chung. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Cơ sở thực nghiệm về phát triển tài sản trí tuệ 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm với mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ Trong nghiên cứu định lượng liên quan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ, các nhà nghiên cứu thực hiện hồi quy dữ liệu bảng với nhiều phương pháp khác nhau. Trong phạm vi tìm hiểu của tác giả, kỹ thuật định lượng được các nhà nghiên cứu sử dụng càng lúc càng phức tạp dần theo thời gian, điều này phù hợp với đặc điểm số liệu của kinh tế vĩ mô, rất dễ xảy ra các hiện tượng như tự tương quan, nội sinh, … do đó, các phương pháp phải hoàn thiện dần để khắc phục được các nhược điểm số liệu. Ban đầu, kỹ thuật hồi quy đơn giản nhất được Gould và Gruben (1996) là hồi quy dạng hàm Log – Linear, sau đó Thomson và Rushing (1999) dùng phương pháp bình phương tối thiểu 2 và 3 giai đoạn. Đến năm 2005, Schneider (2005) thực hiện nghiên cứu định lượng với hồi quy OLS và mô hình hiệu ứng cố định FEM cho dữ liệu dạng bảng.
Năm 2006, Falvey và Greenaway (2006) nghiên cứu thực nghiệm bằng phương trình ước lượng tăng trưởng phi tuyến, tập trung vào các ngưỡng đặc biệt (thresholds in particular). Với khả năng kiểm soát được hiện tượng nội sinh, phương pháp GMM được Kim và cộng sự (2012) dùng đồng thời với các phương pháp OLS và FEM.