Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khảo lược các nghiên cứu cùng chủ đề. Chương 3: Mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận, một số kiến nghị và hạn chế của bài nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHẢO LƢỢC CÁC NGHIÊN CỨU CÙNG CHỦ ĐỀ Trong chương này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu các khái niệm liên quan đến quy mô chính phủ, tham nhũng, dân chủ cũng như viện dẫn các lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa chúng. Ngoài ra trong chương này, tác giả cũng giới thiệu một số nghiên cứu trên thế giới phân tích tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng: vai trò của nền dân chủ. Cuối cùng, tác giả tiến hành xây dựng mô hình lý thuyết trên cơ sở các giả thuyết về kỳ vọng dấu được rút ra từ khung lý thuyết nền đã xây dựng để phân tích tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng: vai trò của nền dân chủ.
Mô hình lý thuyết nghiên cứu ở chương này là cơ sở để tác giả xây dựng mô hình thực nghiệm ở chương 3. Các khái niệm liên quan 2. Quy mô chính phủ Quy mô của chính phủ vẫn là một khái niệm có nhiều tranh cãi, đề cập đến số lượng các chức năng hiện có của chính phủ, số cơ quan nhà nước và công chức, hoặc quy mô ngân sách của chính phủ (Buchanan, 1980). Thuật ngữ "quy mô" rất hữu ích để khám phá sự tương tác giữa các thay đổi trong quy mô của chính phủ và đo lường hiệu suất của chính phủ.
Trong lý thuyết hiện có, thường sử dụng hai chỉ tiêu để đô lường quy mô của chính phủ là tỷ lệ phần trăm nhân viên công quyền làm việc cho chính phủ so với dân số và tổng chi tiêu của chính phủ trên GDP (xem Afonso và Furceri, 2010; Altunc và Aydın, 2013; Dar và Amir Khalkhali, (2002). Tỷ lệ chi tiêu của chính phủ/tổng thu nhập quốc gia rõ ràng là cao hơn tỷ lệ công chức làm việc cho chính phủ so với toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế, bởi trên thực tế, phần lớn các chi tiêu của chính phủ là chi cho hàng hoá, dịch vụ và thiết bị hơn là để trả lương cho công chức. Mặc dù có rất nhiều sự tương đồng giữa hai yếu tố này (và vị trí xếp hạng của các quốc gia theo tỷ lệ công chức làm việc cho chính phủ cũng rất sít sao với vị trí xếp hạng theo tỷ lệ chi tiêu của chính phủ), nhưng chi tiêu của chính phủ là chỉ số có nhiều ý nghĩa trực giác hơn về “quy mô” của chính phủ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Ngoài ra, chi tiêu công bao gồm các hoạt động của chính phủ, liên quan đến các dịch vụ công và quan chức.
Trong những năm 1980, lý thuyết tăng trưởng nội sinh cho thấy một số cơ chế thông qua đó các hoạt động của chính phủ là rất quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn. Ví dụ, thông qua các chính sách tài khóa và chính sách công, các chính phủ có thể kích thích các quá trình tích lũy vốn con người và đổi mới góp phần tăng năng suất (Barro, 1990; Lucas, 1988, Rebelo, 1991; Romer, 1986). Tuy nhiên, theo quan điểm của North và Thomas (1973), sự tích lũy vốn và đổi mới công nghệ chỉ được coi là những nguyên nhân chính của tăng trưởng; chi tiêu của chính phủ có thể không hiệu quả và ngăn cản tăng trưởng kinh tế do sự phân bổ sai nguồn lực (Strauss, 2001). Theo lý thuyết lựa chọn công, chính phủ có hai tác động trái ngược nhau trên thị trường và có thể tạo ra lợi ích và chi phí (Facchini và Melki, 2013, Ferris và Voia, 2015).
Liên quan đến vai trò có lợi của nó, chính phủ thiết lập các khuôn khổ pháp lý cho việc điều chỉnh thị trường, chẳng hạn như quyền sở hữu, thực thi hợp đồng, giá và quy định về kinh doanh và thực tiễn lao động, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả kinh tế xã hội (Gwartney and Stroup, 2014). Theo cơ chế quy tắc đa số, chính phủ phải cung cấp hàng hoá công dựa trên sở thích của công chúng để đáp ứng nhu cầu tối ưu của xã hội (Meltzer và Richard, 1981). Do đó, quy mô của chi tiêu công được xem là cung cấp một mức độ cơ bản của hàng hoá công để tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh tế xã hội diễn ra suôn sẻ. Tuy nhiên, Chính phủ chịu các loại chi phí khác nhau.
Chi phí sản xuất liên quan đến việc tổn thất vô ích do thuế, hành vi trục lợi, tối đa hoá ngân sách và các vấn đề của Leviathan, và tham nhũng (Munger, 2015). Trong bối cảnh các tác động đối lập, cần phải xác định quy mô chi tiêu công tối ưu để tối đa hóa phúc lợi xã hội. Quy mô chi tiêu công là trọng tâm của mối quan tâm học thuật trong những năm gần đây vì nhiều nghiên cứu đã được tiến hành về những thay đổi trong phạm vi khu vực công tác động đến hiệu quả kinh tế xã hội (Afonso và Furceri, 2010; Altunc và Aydın, 2013; Chen và Lee, 2005; Dar và AmirKhalkhali, 2002; Germmell và Au, 2012; Su và Bui, năm 2015). Chi tiêu công cũng cho thấy thúc đẩy hiệu quả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tăng trưởng kinh tế, nhưng vượt qua ngưỡng tối ưu là bất lợi cho tăng trưởng kinh tế.
Phụ thuộc vào phương pháp, mục đích của nghiên cứu sẽ có nhiều cách khác nhau để đo lường quy mô chính phủ. Cụ thể theo nghiên cứu của Vedder, R., (1998) thì quy mô chính phủ được đo lường bằng 5 chỉ tiêu: tổng chi tiêu/GDP, chi chăm sóc sức khỏe/GDP, chi tiêu bảo đảm thu nhập/GDP, chi quốc phòng/GDP, chi đầu tư ròng/GDP. Nghiên cứu của Frank Michael Hage (2003) đo lường quy mô chính phủ theo các chỉ tiêu sau: tỷ lệ chi tiêu chính phủ/GDP, tỷ lệ lao động của chính phủ/tổng số lao động, tỷ lệ chi tiêu dùng của chính phủ/GDP. Nghiên cứu Sheng-Tung Chen, Chien-Chiang Lee (2005) sử dụng 3 chỉ tiêu để đo lường quy mô chính phủ: tổng chi tiêu của chính phủ/GDP, chi đầu tư của chính phủ/GDP, chi tiêu dùng của chính phủ/GDP.
Các tác giả Javier Andres, Rafael Domenech, Antonio Fatas (2008), Dimitar Chobanov, Adriana Mladenova (2009) sử dụng chỉ tiêu: Chi tiêu chính phủ/GDP để đo lường quy mô chính phủ. Nghiên cứu của Ioannis Bournakis, Christopher Tsoukis (2016) lại sử dụng tổng số thu thuế/GDP để đo lường. Nghiên cứu của Thanh Dinh Su and Thi Mai Hoai Bui (2017) sử dụng chỉ tiêu: chi tiêu ngân sách cấp tỉnh/tổng sản phẩm trong tỉnh (GPP) để xác định quy mô của chính phủ. Nói tóm lại, có nhiều cách khác nhau để đo lường quy mô chính phủ.
Tuy nhiên, chỉ tiêu Chi tiêu chính phủ/GDP được tác giả ưu tiên sử dụng trong nghiên cứu này để đo lường cho biến quy mô chính phủ. Nền dân chủ 2. Khái niệm nền dân chủ Theo Dr. Muneera Alshurman (2015): Từ dân chủ có thể là quen thuộc với hầu hết mọi người.
Tuy nhiên, khái niệm về dân chủ vẫn chưa được hiểu rõ và thường bị lạm dụng bởi các chế độ độc đảng, các nhà lãnh đạo quân sự hay các nhà độc tài để có được sự ủng hộ to lớn của người dân, giúp họ có vị thế chính trị vững chắc (Biesta, 2007). Tuy nhiên, sức mạnh của nền dân chủ đã thành công để tồn tại một lịch sử lâu dài. Bất kể những thách thức, chính phủ dân chủ ở nhiều nước vẫn tiếp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tục tăng trưởng và phát triển. Từ dân chủ được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là “demos” có nghĩa là dân, nhân dân.
Dân chủ được định nghĩa: “là sự tồn tại của chính phủ là do người dân lựa chọn”. Trong một số xã hội, dân chủ có thể được trực tiếp thực hiện bởi công dân. Mặt khác, các quốc gia dân chủ với dân số lớn được thực hiện bởi những người được công chúng lựa chọn (Parker, 2003). Theo Tổng thống Abraham Lincoln, dân chủ là "chính quyền của dân, do dân và vì dân".
Thường thì từ dân chủ và tự do được sử dụng thay thế cho nhau; tuy nhiên, những từ này không đồng nghĩa. Dân chủ chắc chắn là một tập hợp các nguyên tắc và khái niệm về tự do. Nói cách khác, dân chủ là thể chế hoá tự do. Ngoài ra, nền dân chủ cũng bao gồm các quy trình và thực tiễn đã được chuyển đổi trong suốt một lịch sử lâu dài và hỗn loạn.
Nó là điều cần thiết cho những người đang sống trong một môi trường dân chủ để trở thành người giám hộ quyết định sự tự do của họ. Khái niệm về dân chủ được Hồ CHí Minh biểu đạt qua qua hai mệnh đề ngắn gọn nhue sau: “Dân là chủ” và “Dân làm chủ”. Dân là chủ, nghĩa là đề cập đến vị thế của nhân dân; còn dân làm chủ, nghĩa là đề cập đến năng lực và trách nhiệm của nhân dân – thể hiện vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của nhân dân. Quan niệm trên của Hồ Chí Minh phản ánh tương đối chính xác nội dung bản chất của dân chủ.
Quyền hành và lực lượng đều thuộc về nhân dân và xã hội nào bảo đảm cho điều đó được thực thi thì đó là một xã hội thực sự dân chủ. Theo định nghĩa của chủ nghĩa xã hội khoa học, dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là chủ thể của quyền lực. Theo Schumpeter (2012) cho rằng: “Nền dân chủ là một hệ thống chính trị để người dân lựa chọn, thay thế các chính phủ thông qua bầu cử tự do và công bằng”. Điều này đã phát triển thành một đặc điểm của dân chủ là hình thức trách nhiệm giải trình của chính phủ bao gồm hai loại là: trách nhiệm giải trình theo chiều dọc và trách nhiệm giải trình theo chiều ngang: trách nhiệm giải trình theo chiều dọc biểu thị trách nhiệm của chính phủ đối với mọi người thông qua hình thức bầu cử; trách nhiệm giải trình theo chiều ngang dùng để kiểm tra, kiểm soát và tạo sự công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 bằng trong chính phủ.
Kant (2003) cho rằng: bầu cử tự do làm tăng khả năng các quan chức chính phủ tham nhũng sẽ bị trừng phạt và việc kiểm tra, kiểm soát tính hiệu quả và sự cân bằng trong chính phủ có thể hạn chế hoạt động tham nhũng của các quan chức nêu trên.