Chương 1 giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, và ý nghĩa hay kỳ vọng đóng góp của nghiên cứu này. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết nền tảng về FDI, đồng thời khái quát lại những nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và dòng vốn FDI. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3 trình bày về nguồn dữ liệu, cách tính các biến, kỳ vọng các biến, mô hình nghiên cứu và các bước thực hiện kiểm định. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình FMOLS và VECM theo tác giả Boateng và các cộng sự (2015).
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4 đưa ra từng bước thực hiện các mô hình nghiên cứu cũng như kết quả nghiên cứu và thảo luận về kết quả nghiên cứu. Chƣơng 5: Kết luận Chương 5 kết luận mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và dòng vốn FDI vào Việt Nam thông qua bài nghiên cứu này, từ đó nêu ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng thu hút dòng vốn FDI tại Việt Nam. Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày những hạn chế của bài nghiên cứu cũng như đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Chƣơng 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2. Cơ sở lý thuyết về FDI và các nhân tố ảnh hƣởng đến FDI 2. Định nghĩa về FDI Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI là một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó, một tổ chức trong nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế đó.
Theo OECD, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình đầu tư phản ánh mục tiêu của việc thiết lập mối quan hệ lâu dài của một doanh nghiệp thường trú tại một nền kinh tế (đầu tư trực tiếp) trong một doanh nghiệp (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) là cư dân trong một nền kinh tế khác hơn so với đầu tư trực tiếp. Sự quan tâm lâu dài ngụ ý sự tồn tại của mối quan hệ lâu dài giữa các nhà đầu tư trực tiếp và các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và một mức độ đáng kể ảnh hưởng đến việc quản lý doanh nghiệp. Quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp của 10% quyền biểu quyết của một cư dân doanh nghiệp trong một nền kinh tế bởi một cư dân nhà đầu tư trong nền kinh tế khác là bằng chứng của một mối quan hệ như vậy. Theo điều 3, Luật đầu tư năm 2005 tại Việt Nam, đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động đầu tư. Theo tác giả Bùi Thúy Vân (2011), FDI là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế, cá nhân ở quốc gia nào đó tự mình hoặc kết hợp với các tổ chức kinh tế, cá nhân của một nước khác tiến hành bỏ vốn bằng tiền hoặc tài sản vào nước này dưới một hình thức đầu tư nhất định. Theo tác giả Hà Quang Tiến (2014), đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư trực tiếp nhằm mục tiêu lợi nhuận của chủ thể đầu tư nước ngoài tại một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 quốc gia nhất định, bao hàm cả việc đầu tư vốn và trực tiếp quản lý kinh doanh số vốn đó. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một nước là một quá trình đầu tư dài hạn của một cá nhân hay tổ chức nước ngoài đối với nước này với vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để có được quyền tham gia quản lý, điều hành một thực thể trong nền kinh tế nước này nhằm mục tiêu sinh lời.
Các hình thức của FDI Theo tính chất góp vốn, doanh nghiệp FDI chia là 3 dạng: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh: Hình thức hợp tác kinh doanh giữa một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài với một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước (sau đây gọi tắt là các bên hợp doanh) ký kết hợp đồng quy định về quyền lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên hợp doanh mà không hình thành pháp nhân mới. Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan và Luật Đầu tư. Hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký giữa các nhà đầu tư trong nước để tiến hành đầu tư, kinh doanh thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp đồng kinh tế và pháp luật có liên quan. Trong quá trình đầu tư, kinh doanh, các bên hợp doanh có quyền thoả thuận thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do các bên hợp doanh thỏa thuận. Ban điều phối không phải là cơ quan lãnh đạo của các bên hợp doanh. Bên hợp doanh nước ngoài được thành lập văn phòng điều hành tại Việt Nam để làm đại diện cho mình trong việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. Văn phòng điều hành của bên hợp doanh nước ngoài có con dấu; được mở tài khoản, tuyển dụng lao động, ký hợp đồng và tiến hành các hoạt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 động kinh doanh trong phạm vi các quyền và nghĩa vụ quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư và hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Doanh nghiệp góp vốn liên doanh: Nhà đầu tư nước ngoài được liên doanh với nhà đầu tư trong nước để đầu tư thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp thực hiện đầu tư theo hình thức liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư theo hình thức 100% vốn để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp: Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp để tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp nhận sáp nhập, mua lại kế thừa các quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập, mua lại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn, mua cổ phần phải thực hiện đúng các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường; khi sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định của Luật Doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 nghiệp về điều kiện tập trung kinh tế của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp; đáp ứng điều kiện đầu tư trong trường hợp dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện.
Tùy theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, các hình thức đầu tư trên được áp dụng ở mức độ khác nhau. Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, Chính phủ nước nhận đầu tư còn lập ra các khu vực ưu đãi đầu tư trong lãnh thổ như: khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao và đặc khu kinh tế, đồng thời còn áp dụng các hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (B.T), xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (B.O) và xây dựng – chuyển giao (B. Đặc điểm FDI Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số tối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo luật doanh nghiệp mỗi nước. Luật các nước thường quy định khác nhau về vấn đề này.
Quyền quản lý, điều hành đối tượng đầu tư tùy thuộc vào mức độ góp vốn. Nếu góp vốn 100% thì đối tượng đầu tư hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành và quản lý. Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và được phân chia theo phần trăm góp vốn trong vốn pháp định. FDI được xây dựng thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới hoặc mua lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau.
Đây là phương pháp được áp dụng rất nhiều hiện nay bởi các nhà đầutư nước ngoài đối với các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ hoạt động rất hiệu quả, cần vốn để mở rộng quy mô nhưng không tiếp cận được vốn vay hay gặp khó khăn trong những quy định hạn hẹp, ban đầu sẽ là doanh nghiệp góp vốn liên doanh vì nếu ở dạng doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài sẽ được ưu đãi nhiều hơn, song lâu dài sẽ trở thành 100% vốn nước ngoài, điều này ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế vĩ mô của nước nhận đầu tư. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.