Đặt vấn đề Trên thị trường toàn cầu ngày nay, sự giàu có của các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc các yếu tố cơ bản đã không còn là những yếu tố then chốt cho khả năng cạnh tranh giữa các quốc gia (Erdal & Gocer, 2015). Do cấu trúc năng động của cạnh tranh quốc tế, không thể tránh khỏi việc phát triển các công nghệ và sản phẩm mới cho các nước muốn tăng khả năng cạnh tranh của mình. Hiện tại, khả năng sản xuất ra các sản phẩm công nghệ cao và khác biệt mà R&D và sự thay đổi công nghệ do đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cung cấp đã trở nên quan trọng hơn cả. FDI có vai trò quan trọng, cung cấp vốn tài chính đáng kể, bí quyết công nghệ và chuyên môn quản lý cho các nền kinh tế hưởng lợi, thông qua đó, các công ty nước ngoài thành lập các công ty con hay chi nhánh và đem công nghệ tiên tiến hơn từ công ty mẹ vào sản xuất ở nước sở tại.
Không những thế, nhờ những lợi thế từ công ty mẹ mang lại, các công ty nước ngoài tận dụng triệt để nhằm cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước. Chính vì thế, hoạt động của các doanh nghiệp FDI sẽ khuyến khích nhưng cũng gây áp lực về thay đổi công nghệ nhằm tăng năng lựccạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước. Dòng vốn FDI toàn cầu hiện có hướng chuyển dịch sang các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt vào khu vực châu Á và Đông Nam Á đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Trong đó, các nhà đầu tư nước ngoài xem Việt Nam như một trong những điểm đến hấp dẫn nhất với nhiều lợi thế hiện có như: chính trị - xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng, chi phí lao động còn thấp, hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới…Tính đến ngày 20/12/2017, Việt Nam ghi nhận nguồn vốn đăng ký xấp xỉ 318.72 tỷ đô la Mỹ, từ tổng số hơn 24,748dự án còn hiệu lực có vốn đầu tư nước ngoài, Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 172.35 tỷ USD, bằng 54% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.
Tổ chức Hợp tác Kinh tế (OECD), 2002 đã công bố những lợi ích của FDI đối với các nền kinh tế đang phát triển trong đó có Việt Nam. Với các chính sách phù 2 hợp của nước chủ nhà, các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy FDI hỗ trợ việc hình thành nguồn nhân lực, góp phần để hội nhập thương mại quốc tế, giúp tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, góp phần tăng cường phát triển doanh nghiệp, đặc biệt hơn hết là gây nên tác động lan tỏa công nghệ. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng đã đóng góp tích cực trong việc tăng các hoạt động R & D và thay đổi công nghệ của các nước chủ nhà (Freeman, 1982; Martin và Michael J.C, 1994; Lê Thanh Thủy, 2005; K et al, 2010; Elsadig Musa Ahmed,2012) Ngày 15/6/2017 tại Geneva, Thụy Sỹ, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) kết hợp với Trường ĐH Cornell (Hoa Kỳ) và Học viện Kinh doanh INSEAD (Pháp) đã công bố Báo cáo Chỉ số thay đổi sáng tạo (ĐMST) toàn cầu năm 2017 (Global Innovation Index 2017, gọi tắt là GII 2017). Theo đó, Việt Nam đã tăng hạng khá ấn tượng, từ vị trí 59/128 lên vị trí 47/127 nước và nền kinh tế (tăng 12 bậc).
Đây là thứ hạng cao nhất của Việt Nam từ trước đến nay. Việt Nam còn đứng vị trí số 1 về chỉ số GII 2017 trong số các nước có thu nhập trung bình thấp. Về nghiên cứu các tác động của FDI ở Việt Nam, đã có khá nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI tới phổ biển, chuyển giao công nghệ nói chung và tác động tới thay đổi công nghệ của doanh nghiệp nói riêng (Girma, et al, 2002, Chuc D. Nguyen và Gary Simpson, 2008; Sajid Anwar và Lan Phi Nguyen, 2010; Lê Quốc Hội, 2011) nhưng chưa có nghiên cứu ở mức độ cấp tỉnh đánh giá tác động của FDI đến thay đổi công nghệ.
Do đó, mục đích nghiên cứu của bài nghiên cứu ở đây là xem xét liệu dòng vốn FDI có thật sự tác động đến thay đổi công nghệ ở Việt Nam ở mức độ cấp tỉnh trong giai đoạn 2010-2014 hay không, và nếu có thì đó là tác động tích cực hay tiêu cực. Xuất phát từ các vấn đề đặt ra, học viênlựa chọn đề tài: “Tác động lan tỏa của FDI đến sự thay đổi công nghệ của các doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố Việt Nam” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá tác động của dòng vốn FDI đến thay đổi công nghệ của các doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố Việt Nam. Từ đó đề xuất các giải pháp tận dụng tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI đến thay đổi công nghệ của các doanh nghiệp trên các tỉnh, thành phố Việt Nam.3 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung: Nghiên cứu mối quan hệ và tác động lan tỏa của FDI tới thay đổi công nghệ của các doanh nghiệp Phạm vi không gian: Nghiên cứu tác động lan tỏa của FDI tới thay đổi công nghệ của các doanh nghiệp tại 56 tỉnh, thành phố Việt Nam (Ninh Bình, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Bình, Gia Lai, Cà Mau bị loại trừ vì hầu hết các dữ liệu liên quan không có sẵn hoặc bằng không trong thời gian xem xét). Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng trong vòng 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014.4 Cấu trúc luận văn Luận văn gồm 5 chương, tiếp theo sau chương giới thiệu là chương 2, chương này trình bày cơ sở lý thuyết sử dụng để đánh giá tác động của FDI đến thay đổi công nghệ thông qua kênh tác động lan tỏa và khung phân tích, ngoài ra chương này cũng lược khảo một vài nghiên cứu liên quan.
Chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, bao gồm mô tả số liệu, mô hình phân tích, phương pháp ước lượng và lựa chọn mô hình. Phần kết quả thảo luận về thay đổi công nghệ và tác động của FDI sẽ trình bày ở chương 4, phần này còn chứa một mô tả ngắn gọn về hệ thống quyền sở hữu công nghiệp, cũng như hệ thống văn bằng bảo hộ ở Việt Nam, không những thế trong chương này còn nêu lên tổng quan về FDI vào Việt Nam trong nửa sau của những năm 1990 và phân phối của nó trên các tỉnh, thành phố Việt Nam. Chương 5 sẽ là phần kết luận, hạn chế và hàm ý chính sách. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Lý thuyết và tác động lan tỏa của FDI đến thay đổi công nghệ của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm về FDI Có nhiều quan niệm và khía cạnh khi xem xét về FDI và tác động lan tỏa, nhưng nhìn chung đều cho rằng: FDI là hình thức đầu tư mà các cá nhân hay tổ chức của quốc gia nàyđưa vốn vào quốc gia khác để tạo nên cơ sở sản xuất kinh doanhvới mục tiêu sẽ nắm quyền quản lý tài sản này.
Tác động lan tỏa là khithực thể này hoạt động làm ảnh hưởng đến hoạt động của thực thể khác mà có thể hai hoạt động này không liên quan với nhau. Nó xảy ra khi hoạt động đó có những hiệu ứng phụ vượt khỏi dự đoán trước đó. Với đặc trưng của hàng hóa công cộng, kiến thức và công nghệ liên quan đến FDI bởi các công ty đa quốc gia xem như là một ngoại lực quan trọng với những ảnh hưởng dài hạn trong mô hình tăng trưởng nội sinh (Grossman và Helpman, 1991; Lucas, 1988; Romer, 1990). Khi các công ty đa quốc gia với công nghệ tiên tiến chọn thâm nhập thị trường nước ngoài thông qua đầu tư trực tiếp, họ có thể mang cùng với công nghệ tiến bộ và thực tiễn quản lý cao cấp hơn.
Những điều này cho họ một lợi thế cạnh tranh so với các công ty bản địa có xu hướng quen thuộc hơn với các sở thích người tiêu dùng, thực tiễn kinh doanh và các chính sách của chính phủ ở thị trường nước sở tại (Blomstrom và Sjoholm, 1999). Một phần của công nghệ và kinh nghiệm vận chuyển từ các công ty đa quốc gia sẽ phân tán từ các chi nhánh của họ đến các công ty trong nước. Theo Javorcik (2004, trang 607) thì ngoại tác lan tỏa từ FDI diễn ra khi có sự tham gia của các công ty đa quốc gia làm tăng năng suất của các công ty nội địa tiếp nhận vốn và các công ty đa quốc gia không thể hiện đầy đủ giá trị của những lợi ích này. Hiệp hội doanh nghiệp của các công ty đa quốc gia cung cấp cơ hội học tập quan trọng cho các công ty trong nước.
Họ có thể giảm chi phí thay đổi và bắt chước cho các công ty trong nước, từ đó sẽ cải thiện năng suất (Helpman, 1999). FDI có thể làm tăng năng suất các công ty trong nước ở các ngành mà họ tham gia bằng cách cải thiện việc phân bổ nguồn lực 5 trong các ngành đó. Sự hiện diện của các công ty đa quốc gia cùng với các sản phẩm mới và các công nghệ tiên tiến có thể buộc các công ty trong nước bắt chước hoặc đổi mới thay đổi. Sự đe dọa của cạnh tranh cũng có thể khuyến khích các công ty trong nước để tìm kiếm công nghệ mới.
Một lộ trình khác cho sự lan tỏa công nghệ là chuyển dịch lao động từ các chi nhánh công ty nước ngoài sang các công ty trong nước.2 Tác động lan tỏa của FDI Lý thuyết xác định sự lan tỏa công nghệ của FDI từ các công ty nước ngoài sang công ty trong nước phân thành 2 nhóm: tác động lan tỏa theo chiều ngang; và tác động lan tỏa liên ngành/dọc.1 Tác động lan tỏa theo chiều ngang: • Hiệu ứng trình diễn: đại diện cho kênh "giả" của sự lan truyền "Hiệu ứng học tập bằng cách theo dõi" (Jutta Gunther, 2002). Công nghệ mới được giới thiệu đến các nước sở tại, các công ty này có thể quan sát hoạt động, kỹ năng hoặc kỹ thuật của các công ty nước ngoài, bắt chước họ hoặc nỗ lực để có những kỹ thuật mới và áp dụng chúng, dẫn đến cải tiến sản xuất (Wang và Blomstrom, 1992). • Tác động cạnh tranh: ảnh hưởng gián tiếp của FDI đối với hiệu quảvà thay đổi của nước chủ nhà thông qua tăng cường cạnh tranh xem như là một hình thức của hiệu ứng lan tỏa.