Đặt vấn đề nghiên cứu Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu độ nhạy cảm dòng tiền đầu tư thay đổi như thế nào với các hạn chế tài chính của các công ty (Hubbard, 1998; Lensink và các cộng sự, 2001). Phân tích mẫu các công ty Hoa Kỳ, Fazzari và các cộng sự (1988, 2000) chứng minh rằng các khoản đầu tư được thực hiện bởi nhiều công ty bị hạn chế tài chính nhạy cảm hơn với nguồn lực nội bộ sẵn có. Họ lý giải rằng trong một thị trường vốn cạnh tranh không hoàn hảo, chi phí cho nguồn vốn nội bộ thấp hơn chi phí cho nguồn vốn huy động từ bên ngoài, trong khi đó những doanh nghiệp hạn chế tài chính khó tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài, và chi phí sử dụng nguồn tài trợ bên ngoài trở nên rất mắc, vì thế, đầu tư ở các doanh nghiệp này phụ thuộc khá lớn vào nguồn vốn nội bộ. Các doanh nghiệp có nhiều hạn chế tài chính sẽ cắt giảm cổ tức chi trả để gia tăng nguồn vốn bên trong, nhờ đó có thêm nguồn tài trợ cho đầu tư.
Các nghiên cứu quốc tế cũng cung cấp bằng chứng về các khoản đầu tư của công ty được đánh giá có liên quan lớn đến dòng tiền. Hầu hết các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các nền kinh tế công nghiệp phát triển như Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hà Lan, và Vương quốc Anh (xem ví dụ, Kadapazg, 2006; Cleary et al, 2007). Một vài nghiên cứu cũng phân tích dữ liệu từ một số nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Chile, Ấn Độ, Indonesia, Mexico, Đài Loan… (Laeven, 2003; Bhaduri, 2005; Shen và Wang, 2005; Ghosh, 2006). Vấn đề tranh cãi nảy sinh khi Kaplan và Zingales (1997, 2000) và Cleary (1999) cho thấy rằng các công ty Mỹ bị hạn chế tài chính ít nhất cũng thể hiện độ nhạy cảm dòng tiền đầu tư lớn hơn.
Kaplan và Zingales (1997) giải thích các doanh nghiệp tăng đầu tư khi có dòng tiền, thể hiện ở độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư cao và trở nên ít hạn chế tài chính hơn sau khi đầu tư. Ngược lại, những doanh nghiệp gia tăng đầu tư nhưng không có dòng tiền, thể hiện là độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư thấp và sẽ trở nên nhiều hạn chế tài chính sau đó (nếu doanh nghiệp dùng nợ cho nguồn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 vốn đầu tư). Vì thế, độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư cho cái nhìn về cách đầu tư được tài trợ như thế nào. Phát hiện trái ngược này chống lại những người tin vào quan điểm truyền thống.
Những nghiên cứu sau đó cho thấy nguồn gốc của những xung đột trong kết quả này giữa các nhà nghiên cứu là do việc xác định các yếu tố thích hợp để phân biệt các công ty ít bị hạn chế tài chính hơn so với các công ty khác (Moyen, 2004; Cleary et al, 2007). Các tiêu chí được sử dụng để phân loại các công ty có nhiều và ít hạn chế tài chính như tỷ lệ chia cổ tức, vay nợ, khó khăn tài chính, tỷ lệ nợ, quy mô công ty và thời gian hoạt động - không phải không có nhược điểm. Ví dụ, các tiêu chí trên có thể là nội sinh, có nghĩa rằng chúng không được xác định một cách độc lập. Các đặc trưng hạn chế tài chính tự nó có thể đã ảnh hưởng đến các biến công ty cụ thể.
Hơn nữa, các yếu tố phân loại là biến thời gian: xác định một công ty hạn chế tài chính như hiện nay có thể không còn hạn chế trong tương lai. Tiềm năng để giải quyết những tranh cãi này là việc phân tích dữ liệu chéo quốc gia/quốc tế, theo đó nhà nghiên cứu có thể sử dụng các tiêu chí ngoại sinh. Ví dụ, dữ liệu đa quốc gia có thể được sử dụng để phân loại các công ty vào hệ thống tài chính ngân hàng cơ bản và thị trường vốn cơ bản. Hai loại hệ thống tài chính này dự kiến sẽ tạo ra một tác động khác biệt về chi phí/các nguồn vốn nội bộ và nguồn vốn bên ngoài sẵn có, và do đó giảm bớt hạn chế tài chính (Bond et al 2003; Aggarwal và Zong, 2006).
Một đặc tính ngoại sinh để khám phá là nghiên cứu các công ty đa quốc gia. Các hình thức phổ biến nhất của các mạng lưới liên quan tới đấu trường đa quốc gia là tập đoàn kinh tế. Tập đoàn kinh tế là một tập hợp các công ty độc lập được liên kết với nhau bằng các mối quan hệ chính thức và không chính thức. Hầu hết những mối quan hệ này đều tồn tại trong các thị trường mới nổi cũng như ở nhiều nền kinh tế phát triển (Ghemawat và Khanna, 1998).
Các công ty thuộc tập đoàn kinh tế có thể sử dụng lợi ích thị trường vốn nội bộ và nhận được tiếp cận tốt hơn với các nguồn lực tài chính so với các công ty độc lập (Deloof, 1998; Lensink và các cộng sự, 2003). Tính năng này khá hấp dẫn để nghiên cứu các công ty tập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 đoàn và so sánh độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư với những công ty không thuộc các tập đoàn. Bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ của dòng tiền đầu tư được thực hiện bởi Hoshi và các cộng sự (1991), Ferris và các cộng sự (1995) và Kato và các cộng sự (2002), kiểm tra các tập đoàn kinh tế Nhật Bản, và Shin và Park (1999), kiểm tra các tập đoàn kinh tế Hàn Quốc. Điều thú vị được tìm thấy trong những nghiên cứu này cho thấy kết quả hỗn hợp: các công ty tập đoàn Nhật Bản cho thấy độ nhạy cảm dòng tiền đầu tư thấp hơn trong khi đó không có mối quan hệ dòng tiền đầu tư nào giữa các tập đoàn kinh tế tại Hàn Quốc.
Phát hiện trái ngược nhau này là do đặc điểm độc đáo của các tập đoàn kinh tế của Nhật Bản và Hàn Quốc. Ferris và các cộng sự (1995) kiểm tra khả năng của cơ chế thay thế kiểm soát các xung đột đại diện tại các công ty tập đoàn Nhật Bản (Keiretsu). Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty độc lập tại Nhật Bản có liên quan trực tiếp đến nguy cơ xung đột đại diện. Tuy nhiên, đối với các Keiretsu, tác giả không quan sát thấy mối quan hệ như vậy.
Hơn nữa, không giống như các công ty độc lập, các tập đoàn Keiretsu không liên quan đến các nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư. Nhìn chung, bằng chứng chỉ ra rằng các hoạt động sở hữu vốn đối ứng và sự phụ thuộc tài chính phổ biến trong các công ty thành viên Keiretsu nhằm giảm thiểu các xung đột đại diện hiện tại trong các doanh nghiệp và tạo ra những phương pháp hiệu quả hơn đối với kênh thông tin giữa các thành viên. Shin và Park (1999) so sánh độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư tại các Chaebol Hàn Quốc (tập đoàn Hàn Quốc) và các công ty không thuộc Chaebol. Tác giả thấy rằng độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư thấp và không có ý nghĩa thống kê cho các công ty Chaebol nhưng là cao và có ý nghĩa thống kê cho các công ty không thuộc Chaebol.
Mặt khác, đầu tư của công ty Chaebol có liên quan đáng kể đến cơ hội phát triển nhưng các công ty không thuộc Chaebol thì không. Một công ty Chaebol bị ảnh hưởng đáng kể bởi dòng tiền của các công ty khác trong cùng Chaebol mặc dù chúng là những pháp nhân độc lập. Với những phát hiện này, tác giả cho rằng có một thị trường vốn nội bộ trong một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chaebol và thị trường vốn nội bộ này làm giảm những khó khăn tài chính của các Chaebol. Tuy nhiên, hoạt động của thị trường vốn nội bộ không cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn vốn khan hiếm trong nền kinh tế Hàn Quốc bởi vì Chaebol đầu tư nhiều hơn các công ty không phải Chaebol mặc dù cơ hội tăng trưởng tương đối thấp.
Một lý do khác có thể là thiếu sự kiểm tra tính bền vững với đặc trưng chi tiết thực nghiệm thay thế. Tôi cũng thực hiện kiểm định bổ sung bằng cách kiểm tra các đặc trưng công ty thường được sử dụng trong các nghiên cứu trước như đại diện cho hạn chế tài chính. Một số nghiên cứu (ví dụ như Kadapakkam và các cộng sự, 1998; Beck và các cộng sự, 2006; Cleary, 2006) sử dụng các yếu tố như quy mô, thời gian hoạt động và đòn bẩy trong việc phân loại mức độ của các công ty hạn chế tài chính. Tuy nhiên, tác động của các đặc điểm về độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư ở các công ty liên kết tập đoàn phần lớn vẫn chưa được khám phá.
Mặc dù đã có nhiều bài nghiên cứu về độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư cho cả công ty liên kết với tập đoàn và các công ty độc lập ở các thị trường phát triển như Mỹ, châu Âu, ở các thị trường mới nổi như châu Á, Trung Quốc, Ấn Độ. Nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam. Vậy đối với nền kinh tế Việt Nam có những nét tương đồng trong đặc trưng kinh tế, điều kiện thị trường tài chính so với các thị trường mới nổi thì những kết quả trên có còn có phù hợp đối với các công ty liên kết ở Việt Nam hay không? Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Tác động của hạn chế tài chính đến độ nhạy cảm dòng tiền đầu tư: bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu chính của mình. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục đích của nghiên cứu này là kiểm tra tác động của hạn chế tài chính đến mối quan hệ giữa dòng tiền và đầu tư tại các doanh nghiệp Việt Nam.
Đồng thời, so sánh sự khác biệt giữa độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư giữa các công ty liên kết với tập đoàn và các công ty độc lập. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Dựa trên những mục đích nghiên cứu chung, bài nghiên cứu đặt ra các câu hỏi cần được giải quyết, cụ thể: (i) Độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư thay đổi như thế nào với các hạn chế tài chính của các công ty ở Việt Nam? (ii) Độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư đối với các công ty liên kết với tập đoàn và các công ty không liên kết như thế nào? Mặt khác, so sánh sự khác biệt giữa độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư giữa các công ty tập đoàn có nợ vay cao và các công ty độc lập có vay nợ cao?