CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU Cuộc suy thoái kinh tế gần đây (2007-2008) đã mang lại một sự đổi mới tập trung vào chính sách quản trị vốn luân chuyển nói chung và quản trị tiền mặt nói riêng trong chính sách hoạt động của các công ty. Quản trị tiền mặt là việc đảm bảo luôn có đủ lượng tiền mặt tối ưu tại mỗi thời điểm nhất định. Việc nắm giữ tiền mặt sẽ bao gồm hai loại chi phí, đó là chi phí nắm giữ và chi phí cơ hội, chúng tồn tại đồng thời với ba động cơ: động cơ hoạt động giao dịch, động cơ phòng ngừa và động cơ đầu cơ (Keynes 1936).
Theo động cơ hoạt động giao dịch, mức tồn quỹ tiền mặt được hoạch định để đáp ứng kịp thời cho các khoản chi tiêu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Động cơ phòng ngừa cho thấy rằng các công ty sử dụng tiền mặt nắm giữ cho các cơ hội đầu tư mới hoặc các khoản nợ đến hạn khi có một cú sốc bất lợi trong dòng tiền dự kiến. Bản chất của tiền mặt nắm giữ giúp tránh chi phí cao của nguồn tài chính bên ngoài trong trường hợp thiếu hụt tiền mặt. Động cơ đầu cơ là một phản ứng trước sự khan hiếm, biến động giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu hoặc sự biến động tỷ giá hối đoái trên thị trường.
Vì vậy, việc quản trị tiền mặt hợp lý lại đem lại nhiều lợi ích cho công ty, đặc biệt trong điều kiện dòng tiền không ổn định. Các nghiên cứu gần đây thường tập trung làm rõ liệu các công ty sẽ phản ứng như thế nào khi có một sự thay đổi trong dòng tiền: gia tăng hay cắt giảm lượng tiền mặt nắm giữ. Và các công ty bị hạn chế trong việc tiếp cận với các nguồn huy động vốn bên ngoài có phản ứng giống với công ty không bị hạn chế hay không. Năm 2014, Almeida và cộng sự đã phát hiện mối tương quan dương giữa thay đổi tiền mặt nắm giữ và dòng tiền cho thấy rằng công ty tăng (giảm) lượng tiền mặt nắm giữ khi họ có dòng tiền tăng (giảm).
Đồng thời các tác giả cũng tìm thấy bằng chứng rằng các công ty bị hạn chế tiếp cận với nguồn tài chính bên ngoài thì nắm giữ nhiều tiền mặt hơn khi dòng tiền cạn kiệt, còn các công ty không bị hạn chế tài chính thì không. Riddick và Whited năm 2009 kiểm tra lại tác động của dòng tiền lên độ nhạy cảm tiền mặt nắm giữ của công ty với sự khác biệt về lý thuyết và mô hình thực nghiệm, tác giả đưa ra kết luận trái TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 ngược với Almeida và cộng sự năm 2004 là mối tương quan giữa tiền mặt nắm giữ và sự thay đổi trong dòng tiền là âm. Cụ thể: khi dòng tiền công ty tăng lên, lượng tiền mặt nắm giữ giảm xuống và ngược lại. Tiền mặt nắm giữ cho phép các công ty tài trợ cho đầu tư và các khoản nợ khác để tránh chi phí cao của việc huy động vốn bên ngoài (Acharya và cộng sự năm 2007; Almeida và cộng sự năm 2004; Bates và cộng sự năm 2009).
Riddick và Whited 2009 cho rằng các công ty với dòng tiền gia tăng có xu hướng chuyển tiền mặt nắm giữ vào đầu tư vì cú sốc dòng tiền dương thể hiện năng suất cao hơn trong các tài sản thực. Do đó công ty cắt giảm tiền mặt nắm giữ để tài trợ cho các dự án có hiệu suất cao. Qua trực giác điều này giải thích cho kết quả của Riddick và Whited, đó là khi dòng tiền của công ty dương sự thay đổi của tiền mặt nắm giữ là âm. Ngược lại, khi công ty đối mặt với dòng tiền âm, điều này cho thấy sự tồn tại tài sản có hiệu suất thấp hoặc dự án có NPV âm.
Do đó, lập luận của Riddick và Whited (2009) là một công ty tích trữ tiền mặt và từ bỏ các dự án ít lợi nhuận. Bài nghiên cứu cho rằng công ty không thể ngay lập tức chấm dứt tất cả các dự án có NPV âm khi đối mặt với dòng tiền âm bởi ba lý do sau: đầu tiên, một số dự án xấu đã bị ràng buộc về hợp đồng nên công ty không thể chấm dứt chúng ngay lập tức. Điều này rất phổ biến khi các dự án là kết quả của đấu thầu. Khi một công ty bỏ thầu, nó có dòng tiền âm từ dự án nhưng không thể phá bỏ hợp đồng.
Thứ hai, như đề xuất của Kothari và cộng sự 2009, các nhà quản lý thường che giấu các thông tin xấu. Nếu một công ty chấm dứt các dự án xấu, sau đó nhiều khả năng thị trường sẽ biết các vấn đề xảy ra trong công ty. Do đó một số nhà quản lý chọn cách tiếp tục duy trì những dự án xấu để giảm thông tin xấu bị lộ ra thị trường. Bởi sự chôn vùi thông tin xấu (không chấm dứt các dự án xấu), các nhà quản lý hy vọng kéo dài thời gian đến khi một số thông tin tốt đến sẽ trung hòa các thông tin xấu.
Do đó, khi công ty đối mặt với dòng tiền âm, nó không thể chấm dứt dự án ngay lập tức. Nguyên nhân thứ ba là chi phí đại diện, theo Jensen và Meckling 1976 và Jensen 1986 cho rằng các nhà quản lý có động lực đầu tư và duy trì các dự án có NPV âm để tối đa lợi ích cá nhân của họ. Nếu các nhà quản lý đi tìm lợi ích cá nhân bằng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 cách đầu tư quá mức vào các dự án không lợi nhuận và không tìm cách chấm dứt chúng, sự gia tăng trong tiền mặt nắm giữ do chấm dứt các dự án không lợi nhuận sẽ ít hơn so với sự sụt giảm trong tiền mặt do theo đuổi các dự án có lợi nhuận, thậm chí phát sinh nắm giữ tiền mặt tiêu cực. Bởi vì sự ràng buộc hợp hợp đồng dự án, chôn vùi thông tin xấu và chi phí đại diện, một công ty đối mặt với dòng tiền âm có thể không chấm dứt ngay lập tức các dự án xấu.
Theo kết quả đó, tác động của dòng tiền lên độ nhạy cảm tiền mặt nắm giữ là âm chỉ khi công ty có dòng tiền dương. Nếu một công ty có dòng tiền âm, tác giả cho rằng tác động này có thể âm hoặc dương. Có hai mục tiêu chính trong bài nghiên cứu của Dichu Bao và các cộng sự (2012), đầu tiên các tác giả kiểm tra lại mối tương quan giữa dòng tiền và độ nhạy cảm của tiền mặt nắm giữ là âm hay dương. Riddick và Whited (2009) đã chỉ ra rằng tác động của dòng tiền lên độ nhạy cảm tiền mặt nắm giữ là ngược chiều, nhưng mô hình thực nghiệm của họ vẫn thiếu một số biến kiểm soát.
Do đó, việc bổ sung thêm biến kiểm soát vào mô hình là điều cần thiết. Thứ hai, sau khi khẳng định mối tương quan giữa dòng tiền và độ nhạy cảm tiền mặt nắm giữ là âm, Dichu Bao và cộng sự cho thấy độ nhạy cảm tiền mặt nắm giữ của các công ty là bất cân xứng trong điều kiện dòng tiền âm hay dương. Sự bất cân xứng thể hiện: khi công ty có dòng tiền dương, dòng tiền tăng lên thì lượng tiền mặt nắm giữ sẽ giảm, và khi công ty có dòng tiền âm, dòng tiền giảm thì lượng tiền mặt nắm giữ sẽ không bắt buộc phải giảm. Lý do chọn đề tài Quản trị tiền mặt chính là công tác quản trị tài chính giúp cho tiền mặt thực hiện được vai trò của nó một cách hiệu quả nhất.
Trong môi trường kinh doanh hiện nay, quản trị tiền mặt không chỉ giúp đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp mà còn giúp nguồn lực tiền mặt được sử dụng đem lại hiệu quả cao. Việc một công ty nắm giữ bao nhiêu tiền mặt hay lượng tiền mặt tối ưu của một công ty vào từng thời TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 điểm là một vấn đề quan trọng trong quản lý tài chính. Đó là một câu mà các nhà nghiên cứu về kinh tế học tài chính quan tâm. Đặc biệt, trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 và tình trạng suy thoái của nền kinh tế, tính thanh khoản của nhiều công ty chịu áp lực lớn và tiền mặt trở thành một nguồn tài nguyên khan hiếm do những điều khoản thắt chặt tín dụng của thị trường tài chính và cầu tiêu dùng giảm.
Để giải quyết vấn đề thanh khoản, nhiều công ty tìm cách huy động vốn ngắn hạn và phải chịu áp lực thanh toán trong thời gian ngắn, nhưng nếu công ty có khoản tiền dự phòng thì nó có thể tránh rủi ro. Tuy nhiên, việc nắm giữ một lượng lớn tiền mặt là không hiệu quả, bởi vì nó tạo ra rất ít hoặc trong nhiều trường hợp nó không tạo ra thu nhập. Do đó, các công ty Việt Nam cần xác định cho mình một tỷ lệ nắm giữ tiền mặt tối ưu, và nếu không quản trị tốt tiền mặt thì rất dễ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính thậm chí phá sản khi có một cú sốc bất lợi trong dòng tiền dự kiến. Theo Tổng cục thống kê, năm 2016 cả nước có hơn 60.500 doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động.
Ngoài các nguyên nhân vĩ mô, khách quan từ nền kinh tế quốc gia thì nguyên nhân chủ quan xuất phát từ vấn đề về luồng tiền mặt trong công ty chiếm tỷ lệ khá cao. Do đó việc quản trị tốt tiền mặt là chìa khóa dẫn đến sự thành công cho các doanh nghiệp, đặc biệt là nghiên cứu sự thay đổi của tiền mặt nắm giữ khi có sự thay đổi trong dòng tiền công ty (được gọi là tác động của dòng tiền lên độ nhạy cảm của tiền mặt nắm giữ). Mục tiêu nghiên cứu Theo các nghiên cứu trước đây, tỷ lệ tiền và các khoản tương đương tiền của các doanh nghiệp trên thế giới cũng như tại Việt Nam chiếm một tỷ lệ tương đối cao so với các tài sản ngắn hạn khác. Tỷ lệ tiền mặt nắm giữ tối ưu đạt được khi chi phí biên và lợi ích biên của việc đầu tư vào tiền mặt là bằng nhau (Opler năm 1999).
Trong điều kiện hoạt động bình thường, dòng tiền của công ty luôn biến động và do đó mức tiền mặt nắm giữ tối ưu này sẽ luôn thay đổi. Đáp ứng nhu cầu thực tế, đã có nhiều bài nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của dòng tiền lên độ nhạy cảm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 tiền mặt nắm giữ. Đầu tiên phải kể đến Almeida và các đồng sự vào năm 2004, các tác giả đã đưa ra kết luận rằng tác động của dòng tiền lên độ nhạy cảm tiền mặt nắm giữ là cùng chều.