Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài đã được thực hiện. Mô hình phân tích sẽ được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết và thực nghiệm này. Chương 3: Xây dựng phương pháp và mô hình nghiên cứu.
Giới thiệu dữ liệu và mô tả các biến số trong nghiên cứu. Chương 4: Kết quả thực nghiệm sau khi chạy hồi quy và giải thích kết quả xuất hiện trong mô hình. Chương 5: Kết luận tóm lược những vấn đề mà đề tài đã giải quyết. Từ đó, đưa ra một số gợi ý chính sách.
Đồng thời, đưa ra một số hạn chế đề tài nhằm tạo hướng đi cho những nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Để xác định các biến xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp, trong chương này tác giả trình bày cơ sơ lý thuyết làm nền tảng cho việc lựa chọn và đưa ra các giả thuyết về các biến trong mô hình nghiên cứu. Các nội dung được trình bày trong chương này bao gồm: lý thuyết đo lường hạnh phúc; một số lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa di lao động với người ở lại; tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan. Lý thuyết đo lƣờng hạnh phúc Thuật ngữ hạnh phúc được nghiên cứu dưới góc độ sự hài lòng với cuộc sống hiện tại.
Khái niệm này được World Value Survey- Điều tra giá trị thế giới (WVS) do Ronald Inglehart Đại học Michigan đưa ra và thực hiện tại châu Âu năm 1981. Hạnh phúc là một khái niệm đa chiều cạnh, mang tính chủ quan cao và có đặc trưng riêng biệt tùy theo hoàn cảnh, điều kiện và thời điểm nhất định, có thể thay đổi theo thời gian với sự kiện cuộc sống, sức khỏe và kinh nghiệm (Bowling và cộng sự, 2003), phụ thuộc vào cách nhìn nhận của cá nhân (Ziller, 1974). Edgeworth định nghĩa hạnh phúc của một cá nhân trong một khoảng thời gian là tổng của các tiện ích tạm thời trong khoảng thời gian đó; đó là, tiện ích tạm thời không thể thiếu. Hạnh phúc được đánh giá khách quan và chủ quan dựa trên nhu cầu, bắt nguồn từ hệ thống cấp bậc nhu cầu con người của Maslow (1954).
Maslow chia nhu cầu tự nhiên của con người thành các bậc thang khác nhau và được sắp xếp từ thấp đến cao. Cấp bậc thấp nhấp là nhu cầu sinh lý (vật chất, cơ bản) đến nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội (liên kết và chấp nhận), nhu cầu được tôn trọng và cấp bậc cao nhất thể hiện nhu cầu tự hoàn thiện. Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng, là cơ sở để đánh giá mức độ tổng thể hạnh phúc của cá nhân. Nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ cách tiếp cận này cho rằng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 6 nhu cầu thiết yếu bao gồm thực phẩm, chỗ ở, y tế, an ninh và sự tự do (Nussbaum, 2000; Sen, 1999).
Một trong những nghiên cứu đầu tiên về các yếu tố quyết định hạnh phúc chủ quan, Wilson (1967) kết luận rằng một người hạnh phúc là một người ‗trẻ, khỏe mạnh, được giáo dục tốt, được trả lương cao, hướng ngoại, lạc quan, không lo lắng, có tôn giáo, đã kết hôn có lòng tự trọng cao, có tinh thần làm việc, khát vọng, thỏa mãn tình dục và có kiến thức sâu rộng. Dolan et al. (2006) đã nhận thấy rằng có năm yếu tố tác động đến hạnh phúc con người. Năm yếu tố của họ là: (1) sự thỏa mãn sở thích, trong đó bao gồm sự tự do và nguồn lực đáp ứng mong muốn và nguyện vọng của cá nhân; (2) các danh sách mục tiêu (hoặc các nhu cầu cơ bản), trong đó là sự hoàn thành các nhu cầu vật chất, nhu cầu tâm lý và xã hội, được xác định ngoại sinh; (3) thịnh vượng trong đó là việc thực hiện tiềm năng của con người, như quyền tự chủ, phát triển cá nhân, hay yếu tố tích cực (Ryff và Keyes, 1995); (4) hưởng thụ khi đạt sự cân bằng tích cực của tâm trạng và cảm xúc; và (5) kỳ vọng, là đánh giá riêng của cá nhân trong cuộc sống của mình theo một số tiêu chí tích cực.
Layard (2005) chỉ ra bảy yếu tố tác động đến hạnh phúc của con người được gọi là ‗Big Seven‖: (1) mối quan hệ gia đình, (2) tình hình tài chính, (3) công việc, (4) quan hệ cộng đồng và bạn bè, (5) sức khỏe, (6) tự do cá nhân và (7) giá trị bản thân. Hầu hết các nhà tâm lý học đánh giá hạnh phúc dựa trên trạng thái tinh thần và cảm nhận của con người về cuộc sống riêng của họ (Diener, Suh, Lucas, Smith, 1999). Trạng thái, cảm nhận về hạnh phúc như là một hiện tượng tâm lý đặc trưng bởi cảm xúc đối với niềm vui, nỗi buồn, hài lòng hay không hài lòng (Diener, in press). Hạnh phúc chủ quan thể hiện tâm trạng và cảm xúc gần đây của cá nhân, tuy nhiên khi cá nhân cảm thấy bị áp lực khi phải phù hợp với chuẩn mực xã hội hoặc muốn làm giảm sự lo lắng của người thân (Diener et al, 1999), họ có thể TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 7 không phản ánh toàn bộ những suy nghĩ, cảm nhận hiện tại của mình (Schwarz Strack, 1999).
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố quyết định hạnh phúc được hình thành bởi đặc điểm cá nhân như tuổi tác, giới tính, giáo dục và tình trạng hôn nhân. Peiró (2006) thấy rằng tuổi tác, sức khỏe và tình trạng hôn nhân có liên quan chặt chẽ với hạnh phúc. Hạnh phúc có xu hướng theo đường cong U với độ tuổi. Con người hạnh phúc ở thời trẻ và thời điểm con người cảm thấy bất hạnh nhất khi ở độ tuổi trung niên từ 32-50 tuổi, nhưng cuối cùng tăng lên khi cá nhân lớn tuổi với điều kiện ít ốm đau (Blanchflower và Oswald (2004a), Mentzakis và Moro (2009), và Realo và Dobewall (2011)).
Ngoài ra, Roysamb et al. (2002) tìm thấy rằng phụ nữ hạnh phúc hơn so với nam giới. Các nghiên cứu đều cho thấy một mối quan hệ mạnh mẽ giữa hạnh phúc và sức khỏe cả thể chất và tâm lý. Helliwell và Putnam (2004), Ball và Chernova (2005), Safi (2010), và Bartram (2011) tất cả đã tìm thấy rằng sức khỏe là một biến quan trọng liên quan đến hạnh phúc.
Theo nghiên cứu của (Becchetti Rossetti, 2009), yếu tố sức khỏe kém là nguyên nhân chính làm giảm hạnh phúc của người dân cho dù thu nhập có tăng thì mức tăng đó không thể giúp họ đạt được chỉ số hạnh phúc lớn hơn. Chẳng hạn như bị đau tim và đột quỵ làm giảm hạnh phúc của cá nhân (Shields & Wheatley Price, 2005). Một số nghiên cứu tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa giáo dục và hạnh phúc (Blanchflower & Oswald, 2004a). Graham and Pettinato (2001) nhận thấy rằng số năm được đi học có tác động tích cực đến sự hài lòng, và rằng kết quả này xảy ra khi sử dụng luật học bắt buộc như là một biến số công cụ cho việc học để giải quyết các khả năng của nhân quả ngược lại (có nghĩa là, sự hài lòng của cuộc sống lớn hơn có thể làm cho con người hoàn thành việc học nhiều hơn).
Một số nghiên cứu xem xét và cho thấy rằng hôn nhân là công cụ dự báo mạnh nhất của hạnh phúc (Glenn và Weaver, 1979) và li hôn, góa bụa là công cụ dự báo mạnh của bất hạnh (Stroebe & Stroebe 1987). Khi cá nhân ly hôn hay góa bụa phải mất nhiều thời gian để ổn định và thường không đạt được mức hạnh phúc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 8 như ban đầu, thậm chí cảm thấy ít hạnh phúc hơn cả khi chưa kết hôn (Lucas, 2005). Kể cả khi cá nhân có cuộc hôn nhân thứ hai sau khi đổ vỡ vẫn cảm thấy ít hạnh phúc hơn so với cuộc hôn nhân đầu tiên (Diener et al. Kết hôn, sức khỏe tốt và không bị thất nghiệp ảnh hưởng lớn đến hạnh phúc cá nhân, những người độc thân hay đã ly hôn cảm thấy ít hạnh phúc hơn (Clark và Oswald, 1994).
Hầu hết các nhà kinh tế đều xem tất nhiên là thu nhập cao hơn dẫn đến hạnh phúc cao hơn (Blanchflower Oswald, 2004). Thu nhập cao hơn mở rộng các cơ hội thiết lập của các cá nhân và các quốc gia, tức là nhiều hàng hóa và dịch vụ có thể được tiêu thụ. Nhưng cũng có một số nhà kinh tế người không đồng tình với ý tưởng rằng thu nhập cao hơn làm hạnh phúc cao hơn. Nhà kinh tế học đầu tiên nghiên cứu về hạnh phúc, Richard Easterlin (1974) kết luận rằng " tiền không mua được hạnh phúc ".
Một tác giả cho rằng các giá trị yêu thương nhất không thể mua được trên thị trường là Tibor Scitovsky (1976), Scitovsky cho rằng một mức độ cao của sự giàu có mang lại tiện nghi liên tục và do đó ngăn ngừa những niềm vui là kết quả của sự hài lòng không đầy đủ và liên tục của những ham muốn. Gần đây, Robert Frank, trong Luxyry Fever (1999), nhấn mạnh rằng thu nhập và tiêu dùng ngày càng tăng không mang lại hạnh phúc cao hơn. Trong tác phẩm ―Có phải bạn hạnh phúc hơn khi bạn giàu hơn‖ của Kahneman cùng các cộng sự cho rằng thật hão huyền nếu con người chỉ phấn khích khi kiếm được nhiều tiền. Sử dụng dữ liệu của Châu Âu, Lelkes (2006) cho thấy rằng thất nghiệp làm giảm hạnh phúc.
Louis và Zhao (2002) thấy rằng bất kỳ khoảng thời gian thất nghiệp trong 10 năm qua đã có một tác động tiêu cực trên thang điểm hạnh phúc. Hơn nữa, từ dữ liệu GSOEP của Đức cho thấy rằng hạnh phúc có xu hướng theo một đường cong hình chữ U ngược với số giờ làm việc (kể cả khi các ảnh hưởng được kiểm soát). Hạnh phúc của cá nhân tăng khi tăng giờ làm việc, nhưng chỉ đến một điểm nhất định sau đó giảm dần khi giờ làm việc quá nhiều (Meier Stutzer, 2006; Weinzierl, 2005). Oswald (1997) cũng tìm thấy rằng thất nghiệp là một nguyên nhân gây bất hạnh.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 9 Có một số bằng chứng cho thấy rằng sự tham gia vào các hoạt động tôn giáo có tác động tích cực đến hạnh phúc con người (Clark Lelkes, 2005; Hayo, 2004). Sử dụng dữ liệu ESS, Clark và Lelkes (2005) báo cáo rằng đi lễ nhà thờ ít nhất một tháng một lần cũng đủ để cá nhân cảm thấy hạnh phúc hơn.