Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả hoạt động NHTM Chương 3: Phân tích hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam Chương 4: Kiểm định các nhân tố nội tại ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam Chương 5: Kết luận và gợi ý giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động NHTM Việt Nam 5 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 2. Lý thuyết về hiệu quả hoạt động NHTM 2. NHTM và vai trò của NHTM Theo Nghị định số 49/2001/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ định nghĩa: NHTM là NH được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước. Theo Luật số 47/2010/QH12 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: NH là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động NH theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình NH bao gồm NH thương mại, NH chính sách, NH hợp tác xã; NHTM là loại hình NH được thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. NHTM là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế, hay nói cụ thể hơn thì NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi từ các tác nhân trong nền kinh tế, sau đó thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời khác, đồng thời thực hiện cung cấp đa dạng các danh mục dịch vụ tài chính, tín dụng, thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế. Như vậy, rõ ràng NHTM là một trong những tổ chức tài chính có vai trò quan trọng của nền kinh tế. Trước hết, với vai trò trung gian tài chính, NHTM thực hiện việc chuyển các khoản tiết kiệm (chủ yếu từ hộ gia đình) thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các tác nhân khác thực hiện các hoạt động đầu tư.
Đồng thời, NHTM là người cung cấp các khoản tín dụng cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất, là một trong những thành viên quan trong nhất của thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền trung ương và địa phương phát hành để tài trợ cho các chương trình công cộng. NHTM cũng là một trong những tổ chức cung cấp vốn lưu động, vốn trung hạn và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp. Với vai 6 trò thanh toán, NHTM thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử. Với vai trò người bảo lãnh, NHTM cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán.
Với vai trò đại lý, các NHTM thay mặt khách hàng quản lý và bảo lãnh phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán. Cuối cùng với vai trò thực hiện chính sách, các NHTM còn là một kênh quan trọng để thực thi chính sách vĩ mô của chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế vào theo đuổi các mục tiêu xã hội. Hiệu quả hoạt động của NHTM Theo NH Trung Ương Châu Âu (ECB) (2010), hiệu quả hoạt động là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững. Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại.
Còn theo Nguyễn Khắc Minh (2008), hiệu quả hoạt động là mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc các NH đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trước. Một số quan điểm khác lại cho rằng, điển hình là Manfred Kuhn (2010), hiệu quả hoạt động kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa doanh thu đạt được và chi phí bỏ ra. Như vậy từ các quan điểm trên, hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, vốn và các yếu tố khác) để đạt mục tiêu doanh nghiệp đề ra. Thực chất phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh là mối quan hệ so sánh giữa doanh thu đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầu vào có tính đến mục tiêu của doanh nghiệp.
Mối quan hệ so sánh ở đây có thể so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối. Gọi H là hiệu quả hoạt động kinh doanh, K là doanh thu đạt được, C là chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào thì: Về mặt tuyệt đối, hiệu quả hoạt động kinh doanh là hiệu số giữa doanh thu đạt được và chi phí bỏ ra (H = K – C). Chỉ tiêu này cho phép đánh giá hiệu quả hoạt 7 động cả về chiều rộng và chiều sâu. Tuy nhiên loại chỉ tiêu này trong một số trường hợp lại khó có thể thực hiện so sánh được.
Ví dụ, những đơn vị kinh doanh có nguồn lực lớn thì tạo ra lợi nhuận lớn hơn những đơn vị kinh doanh có nguồn lực nhỏ, nhưng không có nghĩa là các đơn vị kinh doanh quy mô lớn lại có hiệu quả lớn hơn các đơn vị kinh doanh có quy mô nhỏ hơn. Như vậy, hiệu quả tuyết đối không cho biết khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các đầu vào. Về mặt tương đối, hiệu quả hoạt động kinh doanh là tỷ số giữa chi phí bỏ ra và doanh thu đạt được (H = C/K). Bằng cách tính này dễ dàng cho thấy để tạo ra một đồng doanh thu thì đơn vị kinh doanh phải bỏ ra bao nhiêu phần trăm chi phí.
Thể hiện dưới dạng cận biên, hiệu quả hoạt động kinh doanh được xác định bằng tỷ số giữa mức tăng của chi phí bỏ ra và mức tăng của doanh thu đạt được. Chỉ tiêu này rất thuận tiện khi so sánh theo thời gian như cho phép so sánh hiệu quả giữa các đơn vị kinh doanh có quy mô khác nhau tại các thời kỳ khác nhau. Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả hoạt động nói chung, còn hiệu quả hoạt động của NHTM nói riêng thì có thể được hiểu ở các khía cạnh sau: - Hiệu quả hoạt động phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu, nó thể hiện mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào, chênh lệch giữa hai yếu tố này càng lớn thể hiện hiệu quả càng cao. - Khả năng giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác.
- Xác suất hoạt động an toàn của NH. Tóm lại, quan điểm về hiệu quả là đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu có thể xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, nên quan điểm đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM trong bài nghiên cứu này, tôi dựa trên khía cạnh thứ nhất là chủ yếu và dựa trên tiêu chuẩn so sánh tuyệt đối giữa doanh thu đạt được với chi phí bỏ ra. Vì khả năng sinh lời tuyệt đối là mục tiêu được các NH quan tâm hơn cả, lợi nhuận cao giúp các NH bảo toàn, mở rộng vốn, tăng quy mô kinh doanh, thu hút vốn đầu tư và như thế tiếp tục tăng hiệu quả hoạt động.
Nhân tố tác động lên hiệu quả hoạt động của NHTM Hiệu quả hoạt động là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một NH, bởi vậy nâng cao hiệu quả hoạt động cũng có nghĩa là tăng cường năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành, năng lực nguồn nhân lực và năng lực về công nghệ để tạo ra tích lũy và có điều kiện mở rộng các hoạt động kinh doanh góp phần củng cố và nâng cao thương hiệu của các NHTM. Tuy nhiên, để NHTM hoạt động có hiệu quả hơn, đòi hỏi phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các NHTM nhằm hạn chế được các hoạt động mang tính chất rủi ro, bảo toàn vốn, nâng cao thu nhập và lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của NHTM, bởi ngoài những nhân tố nội tại của NH còn có các nhân tố mang tầm vĩ mô ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Các hệ số tài chính là công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong đánh giá, phân tích và phản ánh hiệu quả hoạt động của các NHTM ở cấp ngành và cấp quản lý của chính phủ. Mỗi hệ số cho biết mối quan hệ giữa hai biến số tài chính, qua đó cho phép phân tích và so sánh giữa các chi nhánh, giữa các NH và phân tích xu hướng biến động của các biến số này qua 1 khoảng thời gian.
Yêu cầu đối với hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của NH: - Phản ánh đúng bản chất của hiệu quả hoạt động của NHTM là khả năng về tài chính để giúp NH thực hiện các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả không chỉ trong ngắn hạn mà cả tiềm năng và xu hướng có tính dài hạn bền vững; - Có thể thu thập số liệu thống kê, tính toán được; - Phải phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong hoạt động tài chính, tiền tệ NH và hạch toán, kế toán, thống kê. Nhóm các yếu tố bên ngoài Các yếu tố bên ngoài là những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát trong quản lý của NH. Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng gián tiếp rất lớn đến lợi nhuận của NH. Theo Karkrah và Ameyaw (2010), các biến kinh tế vĩ mô là thành phần chính tác động đến lợi nhuận của NH.
9 Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Tổng sản phẩm quốc nội hay tổng sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính). GDP đo lường sản lượng đầu ra của một nền kinh tế.