Chương 1: Giới thiệu về đề tài thâm hụt ngân sách và cung tiền M2 tác động đến lạm phát Chương 2: Cơ sở lý thuyết liên quan đến thâm hụt ngân sách và cung tiền M2 ảnh hưởng đến lạm phát TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 3: Thực trạng vấn đề lạm phát, thâm hụt ngân sách và cung tiền M2 ở các nước tại khu vực châu Á Thái Bình Dương Chương 4: Phương pháp nghiên cứu, dữ liệu và kết quả mô hình Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ CUNG TIỀN M2 ẢNH HƯỞNG ĐẾN LẠM PHÁT 2.1 Nền tảng lý thuyết 2.1 Lạm phát Theo N. Gregory Mankiw, Macroeconomics (7th Edition), (Worth Publishers, chương 6 trang 155), "lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian". Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.
Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả". Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất hoàn toàn về định nghĩa lạm phát. Quan điểm cổ điển cho rằng lạm phát xảy ra khi số tiền lưu hành vượt quá dự trữ vàng làm đảm bảo của ngân hàng phát hành.
Cụ thể người ta dựa vào tỷ lệ đảm bảo của tiền tệ để xem xét có lạm phát hay không. Chẳng hạn nếu pháp luật ấn định rằng tỷ lệ đảm bảo tối thiểu của tiền tệ là 30%, khi tỷ lệ đó xuống dưới mức pháp định tức là ngân hàng đã phát hành tiền quá mức. Quan điểm này coi trọng cơ sở đảm bảo của tiền. Trong thực tế, có những trường hợp tỷ lệ đảm bảo pháp định vẫn được tôn trọng nhưng giá cả của hàng hóa đều lên cao.
Quan điểm khác cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế. Có thể tóm tắt trong phương trình Fisher: M. Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm trong khi tổng lượng hàng hóa - dịch vụ được trao đổi (Y) không thay đổi, thì mặc nhiên mức giá trung bình (P) phải tăng lên. Và nếu thêm vào đó tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì P lại tăng rất nhanh.
Để khắc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 phục tình trạng này cần dùng biện pháp thích hợp để thiết lập lại cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế. Cũng bàn về vấn đề lưu thông tiền tệ, Milton Friendman đã từng phát biểu: Lạm phát ở mọi lúc mọi nơi đều là hiện tượng của lưu thông tiền tệ. Lạm phát xuất hiện và chỉ xuất hiện khi nào số lượng tiền trong lưu thông tăng nhanh hơn so với sản xuất. Quan điểm tĩnh về lạm phát nêu trên tuy giúp ta hiểu rõ về lạm phát, nhưng không cho biết nguyên nhân của lạm phát và khiến cho ta lầm tưởng lạm phát cao là kết quả của việc tăng trưởng mức cung tiền tệ cao.
Thật ra trong nhiều trường hợp không hẳn là như vậy, nhà nước có thể tăng cung ứng tiền tệ mà không làm cho giá cả tăng, không gây ra lạm phát, nếu như khối lượng tăng đó phù hợp với khối tiền cần thiết cho lưu thông, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Ngoài ra còn có những quan điểm khác cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa (tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động). Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng. Theo quan điểm này thì giá cả tăng lên cho dù bất kỳ nguyên nhân nào đều là lạm phát.
Lạm phát và giá cả tăng đều cùng một ý nghĩa. Thật ra giá cả đồng loạt tăng lên chỉ là một trong những biểu hiện cơ bản của lạm phát mà thôi. Tóm lại, có rất nhiều góc nhìn khác nhau về lạm phát. Mỗi quan điểm, lý thuyết chỉ giải thích cho một số thời kỳ nhất định và ngày càng nhiều quan điểm mới ra đời cùng sự phát triển của nền kinh tế.
Nhưng dù cho xét trên khía cạnh nào đi nữa thì lạm phát đều có những đặc trưng sau: Sự mất giá của đồng tiền do hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết. Giá cả của hầu hết các loại hàng hóa đồng loạt tăng lên.2 Thâm hụt ngân sách "Thâm hụt ngân sách (hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước ) là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước lớn hơn các khoản thu phần chênh lệch TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 chính là thâm hụt ngân sách. Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách". Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước (trích sách Kinh tế vĩ mô, chương 10, tác giả Nguyễn Văn Dung).
Ví dụ: Thâm hụt NSNN năm 2009 là 155900 tỷ đồng, tỉ lệ thâm hụt so với GDP là 6. Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau: Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm Thu Chi A. Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí). Thu về vốn (bán tài sản nhà nước).
Bù đắp thâm hụt. – Lấy từ nguồn dự trữ. Chi thường xuyên. Cho vay thuần (= cho vay mới – thu nợ gốc).
Công thức tính thâm hụt NSNN của một năm sẽ như sau: Thâm hụt NSNN = Tổng chi – Tổng thu = (D + E + F) – (A + B) = C Các lý thuyết tài chính hiện đại cho rằng, NSNN không cần thiết phải cân bằng theo tháng, theo năm. Vấn đề là phải quản lý các nguồn thu và chi sao cho ngân sách không bi thâm hụt quá lớn và kéo dài. Tuy vậy, trong nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, các Chính phủ vẫn theo đuổi một chính sách tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 khóa thận trọng , trong đó chi ngân sách phải nằm trong khuôn khổ các nguồn thu ngân sách để tránh tình trạng thâm hụt.3 Cung tiền M2 Mức cung tiền tệ là khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông nhằm đáp ứng nhu cầu về giao dịch, dự trữ của các cá nhân, tổ chức, gia đình. Nó được thể hiện dưới hình thức tiền mặt, tiền gửi vào ngân hàng và các tài sản tài chính khác.
Cung tiền thực tế trong lưu thông do các chủ thể phi ngân hàng nắm giữ. Khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế được đo bằng các mức cung tiền tệ khác nhau và được kết cấu theo nguyên tắc tính thanh khoản giảm dần: Tiền gửi không kỳ hạn > tiền gửi có kỳ hạn>chứng khoán ngắn hạn > cổ phiếu >Bất động sản Các mức cung tiền tệ bao gồm M1: lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng và tiền gửi không kì hạn. Đây là bộ phận có tính lỏng cao nhất, phục vụ chủ yếu cho nhu cầu giao dịch M1 = C + D C: tiền ngoài ngân hàng D: tiền gửi không kỳ hạn M2: bao gồm M1 và tiền gửi có kì hạn M2 kém linh hoạt hơn M1 nhưng sự kiểm soát M2 là hết sức quan trọng bởi vì tiền gửi có kì hạn và không kỳ hạn thường xuyên chuyển hóa cho nhau. Đây là khối tiền được coi như chỉ tiêu kiểm soát chính thức.
M3 là cung tiền ở phạm vi cực kì rộng. Nó bao gồm M2 + chứng chỉ tiền gửi: tín phiếu, trái phiếu do chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức phát hành 2.4 Mối quan hệ giữa cung tiền M2 và lạm phát "Đối với cung tiền M2, một số nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã dùng thuyết số lượng tiền để giải thích cho những nguyên nhân gây ra lạm phát từ tiền tệ. Trong đó, bất cứ sự gia tăng nào trong cung tiền cũng làm tăng GDP danh nghĩa. Mối quan hệ nhân quả cung tiền và lạm phát dựa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 vào định đề nổi tiếng của Friedman "Lạm phát luôn luôn và bất kỳ ở đâu là một hiện tượng tiền tệ" là " Sự gia tăng liên tục và kéo dài của giá cả nhất thiết được đ i liền theo bởi sự gia tăng liên tục của cung tiền" Như đã đề cập, theo lý thuyết về lượng tiền của Milton Friedman, mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát được thể hiện qua phương trình định lượng: MV=PY Trong đó: M là lượng tiền V là vòng quay của tiền.
P là giá cả Y là sản lượng (GDP thực tế). Phương trình định lượng có thể viết dưới dạng phần trăm như sau: (%thay đổi của M + % thay đổi của V = % thay đổi của P + % thay đổi của Y) Công thức trên cho thấy mối quan hệ qua lại giữa các biến động của yếu tố cung tiền, vòng quay của tiền, giá cả và GDP thực tế. Thông thường, vòng quay của tiền hay còn gọi là tốc độ chu chuyển của tiền V không thay đổi nhiều qua từng năm. Giả sử V không thay đổi, khi đó tốc độ tăng của giá cả bằng tốc độ tăng của cung tiền trừ đi tốc độ tăng của GDP thực tế.
Như vậy, lạm phát sẽ xảy ra khi tố c độ tăng cung tiền nhanh hơn tốc độ tăng sản lượng Y. Trong trường hợp nền kinh tế đạt mức sản lượng cố định hàng năm, tỷ lệ tăng của giá cả bằng chính tỷ lệ tăng của cung tiền tệ, tốc độ tăng trưởng cung tiền sẽ quyết định tỷ lệ của lạm phát. Dựa vào lý thuyết định lượng tiền tệ, nhiều nhà kinh tế đồng thuận quan điểm số lượng tiền tệ là yếu tố quyết định tỷ lệ lạm phát (Mankiw, 1997). Tuy nhiên không đồng tình quan điểm này, Mortaza (2006) cho rằng trong các nước đang phát triển, lạm phát không hoàn toàn thuộc về hiện tượng tiền tệ mà có liên quan mật thiết với thâm hụt ngân sách (Phát triển kinh tế số 259 2012).
Hầu hết các nước đang phát triển đều có mức lạm phát biến đổi thất thường và rất cao.