Chương 1 trình bày lý do chọn đề tài, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, không gian, thời gian, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết các nhân tố hình thành vốn xã hội, tác động của vốn xã hội và sự hạnh phúc lên đóng góp cho hàng hóa công và lý thuyết trò chơi hàng hóa công (public good game) với ngưỡng đóng góp (threshold) và quy luật hoàn trả tỷ lệ (proportional rebate rule). Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, đo lường các biến số đưa vào mô hình, cách thức tổ chức trò chơi hàng hóa công và thu thập, xử lý dữ liệu sơ cấp. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu từ mô hình hồi quy kinh tế lượng, nhận xét những điểm giống và khác biệt so với lý thuyết và những nghiên cứu trong chương 2 đồng thời nêu ý kiến thảo luận của người viết.
Chương 5 trình bày kết luận, những đóng góp của luận văn, hàm ý chính sách, những hạn chế trong quá trình nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Lược khảo những lý thuyết liên quan 2. Lý thuyết về hàng hóa công cộng và vấn đề kẻ ăn theo Hàng hóa công cộng hay dịch vụ công cộng là hàng hóa và dịch vụ mang hai tính chất: không cạnh tranh và không thể loại trừ; theo đó không thể loại trừ một cách hiệu quả các cá nhân khỏi việc sử dụng hàng hóa công cộng và việc một cá nhân sử dụng loại hàng hóa này không làm ảnh hưởng đến giá trị và tính có thể sử dụng của nó đối với cá nhân khác.
Theo Gravelle và Rees (2004), đặc điểm xác định hàng hóa công cộng là việc tiêu dùng của một cá nhân không thực sự hay có khả năng làm giảm giá trị sẵn có để nó được tiêu dùng bởi cá nhân khác. Hàng hóa công thường có lợi ích lớn hơn chi phí tạo ra. Do vậy về mặt xã hội đó là hàng hóa cần thiết được cung cấp. Nhưng hai thuộc tính của hàng hóa công sẽ dẫn đến tình trạng người ăn theo.
Kết cục là tư nhân không đầu tư, hàng hóa công không tồn tại, do vậy giải pháp thị trường bị thất bại đối với loại hàng hóa này. Kẻ ăn theo (free rider) hay kẻ hưởng thụ miễn phí, chỉ những người thụ hưởng các lợi ích từ hàng hóa công cộng mà không chịu tham gia gánh những chi phí cần thiết để các hàng hóa đó được cung cấp, hoặc chịu gánh những chi phí nhưng ít hơn so với lợi ích mà họ được hưởng. Kẻ ăn theo chỉ ngồi không hưởng lợi, thích thụ hưởng mà không có trách nhiệm với cộng đồng và cũng là vấn đề thảm họa của mọi nền kinh tế và là một thất bại của thị trường. Lý thuyết về sự hạnh phúc Theo Jefferson (1776), hạnh phúc có có nghĩa là sự thịnh vượng mà bất cứ người dân nào cũng đều mong muốn.
Theo Anand (2016), hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí. 6 Những nghiên cứu gần đây, như của Lu (1991), Lyubomirsky (2000, 2005) cho thấy hạnh phúc là một khái niệm phức tạp và có thể có ý nghĩa khác nhau với những người khác nhau. Một phần của thách thức khi nghiên cứu khoa học hạnh phúc là xác định các khái niệm hạnh phúc khác nhau, và khi thích hợp, chia chúng thành các thành phần của chúng.
Vì các khái niệm phúc lợi, chất lượng cuộc sống và sự hưng thịnh liên quan chặt chẽ đến sự hạnh phúc nên cần cẩn trọng khi đề cập đến khái niệm hạnh phúc. Anand (2016) cũng cho rằng có thể hiểu hạnh phúc là sự thỏa mãn về các mặt khi con người đặt được như mong muốn của mình. Về khía cạnh đo lượng, Văn phòng thống kê Anh Quốc (2015) đã đưa ra thang đo từ 0-10 để hỏi người dân về tổng thể họ đánh giá mức độ hạnh phúc của mình đạt bao nhiêu điểm. Đi kèm với câu hỏi này, Văn phòng thống kê Anh Quốc còn đo lường mức độ hài lòng với cuộc sống, sự lo ngại và phúc lợi của người dân với thang đo tương tự.
Nhiều nghiên cứu như của Lyubomirsky (2000, 2005) cũng chọn hỏi người tham gia theo một thang đo định trước để đánh giá mức độ hạnh phúc. Lý thuyết về vốn xã hội và những nhân tố hình thành vốn xã hội Theo Bourdieu (1986) vốn xã hội là toàn bộ nguồn lực (thực tế hoặc tiềm ẩn) xuất phát từ mạng lưới quen biết trực tiếp hoặc gián tiếp (chẳng hạn thành viên cùng một tôn giáo, hoặc cùng sinh quán hay đồng môn). Những cá nhân, gia đình, hay tập thể nào càng có nhiều móc nối thì càng nhiều ưu thế. Theo Coleman (1988), vốn xã hội có ba đặc tính: thứ nhất, nó phụ thuộc vào mức độ tin cậy nhau của con người trong xã hội.
Nói cách khác, nó tùy thuộc vào nghĩa vụ mà mỗi người tự ý thức, và kỳ vọng của người này ở người khác. Thứ hai, nó có giá trị gói ghém các liên hệ xã hội. Nghĩa là qua tiếp xúc hàng xóm, bạn bè, mỗi người có thể thu thập nhiều thông tin hữu ích cho cuộc sống, thay thế phần nào những thông tin trong sách, báo, truyền thanh, truyền hình. Thứ ba, vốn xã hội càng lớn khi xã hội càng có nhiều quy tắc (norms), nhất là những quy tắc có kèm trừng phạt (norms accompanied by sanctions).
Ngoài ra, Coleman cũng cho rằng vốn xã 7 hội mang tính chất của một loại hàng hóa công, nghĩa là người ta sẽ chẳng bao giờ chịu đầu tư cho nó ở mức tối ưu. Dạng liên kết trong vốn xã hội được hình thành trong một cộng đồng hoặc nhóm người đồng nhất, có chung văn hóa, chủng tộc và hành động vì lợi ích chung; trong khi dạng bắc cầu trong vốn xã hội được hình thành từ sự liên kết nhiều cộng đồng hoặc những nhóm người đa dạng về văn hóa và chủng tộc. Vốn xã hội liên kết dễ hình thành và gia tăng hơn bắc cầu do xuất phát từ một cộng đồng đồng nhất. Để gia tăng vốn xã hội, cần thiết phải gia tăng lòng tin, khả năng hợp tác và mạng lưới liên kết.
Theo Cohen và Prusak (2001), vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng giữa những con người với nhau, cụ thể là sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau, và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách nối kết những thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau. Theo World Bank (2005), vốn xã hội là những quy tắc và mạng lưới mà cho phép hành động chung. Vốn xã hội được thể hiện qua hai dạng: vốn xã hội hành vi, gồm lòng tin và khả năng hợp tác; và vốn xã hội liên kết, bao gồm mạng lưới và tính chặt chẽ. Tóm lại, trong các học thuyết và định nghĩa thì vốn xã hội của một cá nhân được hình thành và thể hiện thông qua lòng tin, khả năng hợp tác, các mạng lưới liên kết họ tham gia và tính chặt chẽ trong các mạng lưới liên kết đó.
Tác động của vốn xã hội lên đóng góp cho hàng hóa công Theo Putnam (1995a, 1995b, 2000), vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khả năng hợp tác và lòng tin để cộng đồng có thể chung tay xây dựng những mục tiêu cụ thể, mang lại niềm tin và thúc đẩy sự phát triển chung của cộng đồng mà điển hình nhất là các hàng hóa công cộng và các hoạt động tình nguyện. Việc tham gia vào các hội, nhóm, hoạt động hay các câu lạc bộ tình nguyện là yếu 8 tố quan trọng làm gia tăng vốn xã hội, qua đó cải thiện đóng góp cho hàng hóa công và giảm thiểu vấn đề kẻ ăn theo. Theo Fukuyama (1995), tin cẩn hay lòng tin (một trong những nhân tố làm gia tăng vốn xã hội) không chỉ giúp một cộng đồng nhỏ hay những các nhân riêng biệt gia tăng hợp tác trong các hành động chung tay vì sự phát triển chung của cộng đồng mà xa hơn sự tin cẩn còn giúp gầy dựng các tập đoàn, hình thành sức mạnh quốc gia. Theo Nahapiet và cộng sự (1998), tham gia các tổ chức là một chuyện nhưng điều quan trọng là giữa các thành viên có sự tin cẩn để chia sẻ các chiều hướng nhận thức chung.
Chính môi trường tổ chức và khả năng chia sẻ nhận thức, suy nghĩ đã giúp các thành viên thấu hiểu nhau hơn, tin cẩn nhau hơn. Những yếu tố trên, cùng nhau, khiến người ta thuận tiện trong việc cùng nhau thực hiện các hành động vì cộng đồng và sẵn sàng đóng góp công sức cho các mục tiêu chung. Đồng quan điểm, Fu (2004) cũng cho rằng lòng tin đóng góp tích cực vào sự hợp tác cho các mục tiêu chung. Theo Coleman (1990) và Burt (1992), chính cơ chế vốn xã hội đã giải quyết vấn đề thiếu tính hợp tác và hành động vì mục tiêu, lợi ích chung tại các công ty, qua đó giúp thúc đẩy năng lực kinh tế của chính các công ty đó.
Lý thuyết về trò chơi ngưỡng đóng góp hàng hóa công (threshold public goods game) với chính sách hoàn trả (refund policy) và quy luật hoàn trả theo tỷ lệ (proportional rebate rule). Nhiều loại hàng hóa công như: cầu, hầm chui, đê bao… phải được cung cấp toàn vẹn mới có ý nghĩa sử dụng. Vì vậy, để có những hàng hóa công này cần thiết phải huy động đủ kinh phí để xây dựng nó (Spencer và cộng sự, 2008). Chi phí cung cấp hàng hóa công như vậy thường được gọi là một ngưỡng (threshold) hoặc điểm cung cấp (provision point).
Nếu quỹ huy động đáp ứng hoặc vượt ngưỡng thì hàng hóa công đó sẽ được cung cấp. Ngược lại, nếu quỹ huy động không đạt ngưỡng, các khoản đóng góp đều được hoàn trả. 9 Trò chơi ngưỡng đóng góp hàng hóa công (Isaac và cộng sự, 1989) với chính sách hoàn trả và quy luật hoàn trả phần dư theo tỷ lệ đóng góp (Marks và Croson, 1998, 2000) bao gồm N người chơi. Người chơi thứ i=1,2,…,N đều có số tiền quyên góp ban đầu bằng nhau là I.
Cá nhân mỗi người chơi sẽ quyết định trích số tiền sẽ quyên góp một cách độc lập, Ci, từ I để đóng góp cho hàng hóa công được hỏi.