Chương 1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Cơ sở lý luận về tác động của vốn tự có đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại. Phương pháp nghiên cứu tác động của vốn tự có đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại.
Khảo sát thực nghiệm tác động của vốn tự có đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đánh giá và đề xuất giải pháp xây dựng cấu trúc vốn tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VỐN TỰ CÓ ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết về tác động của vốn tự có đến RRTD của các NHTM bằng cách lần lượt trình bày các khái niệm về vốn tự có, RRTD, cách thức đo lường RRTD và đi sâu vào phân tích tác động của vốn tự có đến RRTD của các NHTM tại Việt Nam. Cơ sở lý luận về vốn tự có của NHTM 2.
Vốn tự có của NHTM 2. Khái niệm vốn tự có Theo quan điểm tài chính, vốn chủ sở hữu hay vốn tự có của NHTM là nguồn vốn riêng của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp ban đầu và được bổ sung trong quá trình kinh doanh. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm vốn tự có cơ bản và vốn tự có bổ sung. Vốn tự có cơ bản là vốn điều lệ.
Đây là số vốn của ngân hàng phải có để đi vào hoạt động và được ghi vào điều lệ. Tùy theo loại hình ngân hàng mà nó được hình thành từ những nguồn khác nhau. Cụ thể đối với NHTM cổ phần là do cổ đông góp vốn được tính theo mệnh giá cổ phiếu. Là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, do vậy vốn điều lệ của các NHTM phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định do ngân hàng trung ương quy định (Trầm Thị Xuân Hương & Hoàng Thị Minh Ngọc, 2011).
Vốn tự có bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng gia tăng vốn chủ sở hữu theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và các quỹ như: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt và quỹ khác. Nguồn nội bộ (nguồn từ lợi nhuận): Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, chủ ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư. Tỷ lệ tích lũy tùy thuộc vào cân nhắc của chủ ngân hàng về tích lũy lợi nhuận và tiêu dùng. Những ngân hàng lâu năm có thu nhập ròng lớn, nguồn vốn tích lũy lợi nhuận sẽ cao hơn với 1 vốn của chủ hình thành ban đầu (Nguyễn Thị Ngọc, Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các NHTMCP tại Việt Nam, 2018) Các quỹ: + Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Là quỹ được dùng với mục đích tăng cường vốn tự có ban đầu.
Lợi nhuận hằng năm bổ sung vào quỹ này cho đến khi đạt 50% vốn tự có sẽ chuyển thành vốn tự có. + Quỹ dự trữ đặc biệt: Là quỹ dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình kinh doanh nhằm bảo toàn vốn. + Các quỹ khác: Gồm có lợi nhuận chưa phân phối, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ khấu hao tài sản cố định. Các quỹ trên thuộc sở hữu của ngân hàng.
Nguồn hình thành là từ thu nhập của NHTM mà có khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận của vốn chủ sở hữu của ngân hàng (vốn bổ sung) do nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn. Cách xác định vốn tự có Trong bài nghiên cứu tác giả sử dụng vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán đã kiểm toán của các ngân hàng làm cơ sở tính toán. Theo đó vốn chủ sở hữu gồm vốn của TCTD (vốn điều lệ, thặng dư vốn cổ phần, cổ phiếu quỹ), các quỹ dự trữ, chênh lệch tỷ giá hối đoái, lợi nhuận chưa phân phối, lợi ích của cổ đông không kiểm soát,… khá tương đồng với cách xác định vốn tự có theo thông tư 41/2016/TT-NHNN. Vai trò của vốn tự có Vốn tự có là một trong những điều kiện tiên quyết để thành lập ngân hàng và duy trì hoạt động ngân hàng trong giai đoạn đầu.
Theo Nghị định 86/2019/NĐ-CP, mức vốn pháp định tối thiểu để thành lập một NHTM là 3. Gia tăng hình ảnh, tạo niềm tin đối với khách hàng. Các ngân hàng có vốn tự có lớn thường thu hút nhiều tiền gửi hơn các ngân hàng có vốn nhỏ vì tạo được niềm tin 1 hơn cho người gửi tiền. Từ đó gia tăng nguồn vốn, đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh, tối đa hóa lợi nhuận.
Vốn tự có của ngân hàng giúp tăng khả năng chịu đựng khi ngân hàng rơi vào tình trạng khó khăn. Đây là nguồn vốn cứu cánh cuối cùng khi các nguồn vốn khác cạn kiệt. Vốn tự có là một nguồn lực tài chính vững chắc giúp ngân hàng tăng quy mô, phát triển, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ. Với một tiềm lực tài chính mạnh về vốn chủ sở hữu sẽ giúp ngân hàng dễ dàng tiếp cận công nghệ mới hơn so với các ngân hàng nhỏ đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ lao động trong đó có đội ngũ thẩm định tín dụng.
Từ đó không chỉ tạo nên sự cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, thu hút nhiều khách hàng hơn mà còn nâng cao chất lượng các khoản tín dụng, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Hệ số an toàn vốn (CAR) Hệ số an toàn vốn (CAR) là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của NHTM. Theo Basel I: Vốn chủ sở hữu CAR = Tài sản có rủi ro (RRTD) Theo Basel II, III: CAR = Vốn tự có Tài sản có rủi ro (RRTD+RRHĐ+RRTT) Nguồn: www.org Theo Basel II và Basel III, hệ số CAR yêu cầu đối với các NHTM đều ở mức tối thiểu là 8%. Tại Việt Nam, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cũng được quy định trong thông tư 13/2010/TT-NHNN, thông tư 36/2014/TT-NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng, trừ chi 1 nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ).
Vốn tự có Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ = Tổng tài sản "Có" rủi ro Thông tư 41/2016/TT-NHNN yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đối với các NHTM là 8%. Nhìn chung các thông tư NHNN quy định về tỷ lệ an toàn vốn thối thiểu đều hướng đến chuẩn Basel II theo từng giai đoạn. Để đạt được chuẩn Basel II về chỉ tiêu hệ số an toàn vốn đòi hỏi các NHTM phải có một lượng vốn tự có tương ứng với tài sản có rủi ro. Cơ sở lý luận về RRTD của NHTM 2.
Khái niệm RRTD Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là "rủi ro") là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013, RRTD trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Theo Brown và Moles (2014), RRTD được định nghĩa là khả năng một bên của hợp đồng sẽ không đáp ứng các nghĩa vụ của mình phù hợp với các điều khoản đã thỏa thuận. Theo Heffernan (1996) quan sát rằng RRTD là rủi ro khi tài sản hoặc khoản vay trở nên không thể phục hồi trong trường hợp hoàn toàn vỡ nợ hoặc rủi ro chậm trễ trong việc phục vụ khoản vay.
1 Theo Timothy & MacDonal (1995) thì RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và giá trị thị trường của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hoặc thanh toán trễ hạn. Theo Basel II (2000), RRTD là khả năng mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận. Theo World Bank, RRTD là nguy cơ người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả gốc so với thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Từ các định nghĩa trên và theo hướng nghiên cứu của tác giả có thể hiểu RRTD là rủi ro phát sinh do khách hàng (người đi vay) không thực hiện đúng cam kết trả nợ theo hợp đồng tín dụng bao gồm việc trả không đầy đủ hoặc không trả nợ đúng hạn gây tổn thất về kinh tế cho bên cho vay là các NHTM.
Nguyên nhân gây ra Có nhiều nguyên nhân dẫn đến RRTD cho các NHTM trong quá trình hoạt động cả về khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan đến từ môi trường chính trị, pháp lý, môi trường kinh doanh hay từ chính khách hàng vay vốn. Nguyên nhân chủ quan là do bắt nguồn từ nội bộ ngân hàng như chính sách tín dụng, trình độ năng lực quản lý của các cấp trong ngân hàng, đạo đức của cán bộ,… Các nguyên nhân khách quan: Môi trường tự nhiên: Thiên tai, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh,… có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra có thể làm doanh nghiệp bất ngờ rơi vào hoàn cảnh khó khăn, thua lỗ, có thể dẫn đến mất khả năng trả nợ cho ngân hàng khiến nợ xấu tăng lên.
Môi trường kinh tế, chính trị- xã hội: Khi kinh tế trên đà phát triển, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả, nợ ngân hàng luôn được trả đúng hạn. Tuy nhiên khi môi trường kinh tế, chính trị, xã hội bất ổn, khủng hoảng kinh tế xảy ra làm tình hình kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn sẽ khiến doanh nghiệp dễ lâm vào tình trạng bất cân đối tài chính, thua lỗ, mất khả năng trả nợ hoặc phá sản làm gia tăng nợ xấu ở ngân hàng.