Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về tác động của vốn chủ sở hữu đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 4: Mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VỐN CHỦ SỞ HỮU ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm Cũng như bất cứ doanh nghiệp nào, muốn kinh doanh được thì phải có vốn, hay nói cách khác vốn là tiền đề cho khởi sự kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, nguồn vốn phản ánh thông qua kết cấu nguồn vốn của ngân hàng gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác.
Rose (2012), vốn chủ sở hữu ngân hàng là nguồn tiền được chủ sở hữu ngân hàng đóng góp bao gồm chủ yếu là cổ phiếu, các khoản dự trữ và lợi nhuận không chia. Vốn chủ sở hữu ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh và đảm bảo cho hoạt động dài hạn của một tổ chức tài chính. Theo Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự (2010), vốn tự có còn được gọi là vốn chủ sở hữu, là vốn riêng của ngân hàng thương mại. Đây là số vốn ban đầu và được gia tăng không ngừng trong quá trình phát triển của ngân hàng thương mại.
Theo Trần Huy Hoàng (2011), vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng nhưng giữ vai trò rất quan trọng vì vốn chủ sở hữu vừa là cơ sở hình thành nên các nguồn vốn khác vừa tạo nên uy tín ban đầu và duy trì niềm tin của công chúng vào ngân hàng. Vốn chủ sở hữu là nền tảng cho sự tăng trưởng của ngân hàng vì đây nguồn vốn ổn định, luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của ngân hàng và có thể sử dụng với kỳ hạn dài mà không phải hoàn trả. Thành phần của vốn chủ sở hữu Theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thành phần vốn tự có hay vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2.
6 Vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp); các quỹ bao gồm quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, quỹ dự phòng tài chính; vốn đâu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định; lợi nhuận chưa phân phối; thặng dư vốn cổ phần. Các khoản loại trừ khỏi vốn cấp 1 bao gồm: lợi thế thương mại; lỗ lũy kế và cổ phiếu quỹ. - Vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp): là nguồn vốn ban đầu ngân hàng có được khi mới hoạt động và được ghi vào bảng điều lệ hoạt động của ngân hàng. Đây là vốn do các thành viên, cổ đông đóng góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định.
Vốn điều lệ được sử dụng chủ yếu vào mục đích như xây dựng trụ sở, chi nhánh ngân hàng, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh, góp vốn liên doanh. và có thể điều chỉnh tăng lên trong quá trình hoạt động của ngân hàng. - Các quỹ được hình thành từ lợi nhuận ròng hàng năm của ngân hàng. - Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản cố định: được hình thành từ việc trích khấu hao tài sản cố định và từ các nguồn hợp lý khác để sử dụng cho nhu cầu đầu tư, xây dựng, mua sắm tài sản cố định của ngân hàng.
- Lợi nhuận chưa phân phối: là phần lợi nhuận được giữ lại để bổ sung vốn cho ngân hàng, được xác định qua kiểm toán của tổ chức kiểm toán độc lập sau khi đã nộp thuế và trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật. - Thặng dư vốn cổ phần: là khoản tiền các cổ đông đã góp khi mua cổ phiếu với giá trị lớn hơn mệnh giá của mỗi cổ phiếu. Thặng dư vốn cổ phần xuất hiện khi ngân hàng cổ phần phát hành thêm cổ phiếu nhằm tăng thêm vốn kinh doanh. Vốn cấp 2 bao gồm các quỹ được trích từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật (không bao gồm quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng ban điều hành); 50% phần chênh lệch tăng do đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật; 45% phần chênh lệch tăng do đánh giá lại các khoản góp vốn đầu tư dài hạn theo quy định của pháp luật; 80% dự phòng chung theo quy định của NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng rủi ro đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; công cụ vốn chủ sở hữu có tính chất nợ do ngân hàng phát hành; nợ thứ cấp do ngân 7 hàng phát hành.
Các khoản giảm trừ khỏi vốn cấp 2 bao gồm phần chênh lệch dương giữa dự phòng chung và 1.25% của “Tổng tài sản tính theo rủi ro tín dụng”; phần chênh lệch dương giữa nợ thứ cấp do ngân hàng phát hành và 50% vốn tự có cấp 1; mua, đầu tư nợ thứ cấp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác phát hành đáp ứng đầy đủ các điều kiện để tính vào vốn cấp 2 của tổ chức tín dụng, chi nhành ngân hàng nước ngoài (không bao gồm nợ thứ cấp nhận làm tài sản bảo đảm, chiết khấu, tái chiết của khách hàng). Vai trò của vốn chủ sở hữu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Bảo vệ lợi ích của người gửi tiền Trong hoạt động kinh doanh, các NHTM luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro gây ra những thiệt hại lớn cho nội tại từng ngân hàng cũng như ảnh hưởng đến toàn hệ thống ngân hàng. Trong trường hợp thiệt hại lớn, ngân hàng nếu không đủ dự phòng để bù đắp tổn thất và có nguy cơ dẫn đến phá sản thì cũng có thể sử dụng tấm đệm cuối cùng là vốn chủ sở hữu để bù đắp được những thiệt hại và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Duy trì hoạt động của ngân hàng Vốn chủ sở hữu có thể sử dụng để cho vay, hùn vốn hoặc đầu tư nhằm tạo lợi nhuận cho ngân hàng.
Vai trò duy trì hoạt động của ngân hàng là thứ yếu do vốn chủ sở hữu chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh nên lợi nhuận mà vốn chủ sở hữu mang lại cũng không cao. Điều chỉnh các hoạt động của ngân hàng Vốn chủ sở hữu thường được các cơ quan quản lý ngân hàng dùng để xác định các tỷ lệ an toàn, xác định mức độ an toàn vốn, ban hành những quy định về hoạt động của các ngân hàng nhằm xác định và điều chỉnh các giới hạn hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro tín dụng 2. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo từ điển bách khoa toàn thư (Wikipedia) rủi ro tín dụng liên quan đến rủi ro 8 theo đó con nợ mất khả năng trả bất cứ khoản nợ nào theo yêu cầu.
Rủi ro tín dụng là khả năng bên vay hay đối tác của ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ theo các điều khoản thỏa thuận (Theo Basel II). Theo Trần Huy Hoàng (2011), rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng phát sinh trong quá trình cấp tín dụng. Theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 thì rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Theo Trần Huy Hoàng (2011), căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
- Rủi ro giao dịch: là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro phát sinh trong quá trình đánh giá, phân tích tín dụng hoặc lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ngân hàng quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục bao gồm: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Rủi ro nội tại 9 xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, doanh nghiệp trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng loại hình cho vay có rủi ro cao. Căn cứ vào mức độ tổn thất của rủi ro tín dụng Theo Đinh Xuân Hạng và Nguyễn Văn Lộc (2012), căn cứ vào mức độ tổn thất rủi ro tín dụng chia làm hai loại rủi ro mất vốn và rủi ro đọng vốn. - Rủi ro mất vốn: Là rủi ro khi khách hàng không có khả năng trả được nợ bao gồm gốc và lãi theo hợp đồng và ngân hàng chỉ trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp.