Chương 1. Giới thiệu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu và Thảo luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 5. Kết luận và Khuyến nghị CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Hành vi tránh thuế: 2. Khái niệm hành vi tránh thuế: Tránh thuế là thuật ngữ tài chính phổ biến dùng để chỉ những điều chỉnh của người nộp thuế sao cho số thuế phải nộp trở nên ít nhất có thể bằng việc sử dụng các công cụ pháp lý.
Các định nghĩa về thuật ngữ này hiện đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước như Hanlon và Maydew (2008), Hanlon và Heitzman (2010), Salihu (2014) công bố. Trong khi trốn thuế lại là hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân hoặc pháp nhân khi cố ý không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước theo quy định của pháp luật, thì tránh thuế giúp người nộp thuế giảm thiểu số tiền phải đóng mà không vi phạm pháp luật. Tránh thuế (tax avoidance) là khái niệm dùng để chỉ những cố gắng của người nộp thuế nhằm tổ chức hoạt động tài chính của mình sao cho tránh được các khoản thuế phải nộp thông qua việc lợi dụng tới mức tối đa các khoản chi phí hợp lý và trường hợp miễn giảm thuế. Bằng cách này, người nộp thuế có thể giảm thiểu gánh nặng thuế của họ một cách hợp pháp.
Như vậy khác với trốn thuế, phương tiện sử dụng để tránh thuế là phương tiện hợp pháp, được luật pháp cho phép. Hành vi tránh thuế TNDN: Để làm rõ hành vi tránh né thuế TNDN hiện tại đang tồn tại 2 quan điểm được dùng để làm rõ. Đó là hành vi tránh thuế ban đầu chỉ là sử dụng các cách thức như LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiết lập các hợp đồng, các giao dịch (Lisowsky, 2010) hoặc tận dụng các ưu đãi thuế (Desai và Hines, 2009) để tiết kiệm phần thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước, hành vi này không liên quan gì đến vấn đề đại diện của doanh nghiệp (Desai và Dharmapala, 2009). Nên các hành vi tránh thuế này được các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện nhằm làm giảm gánh nặng thuế cho doanh nghiệp và hành vi này được nhìn theo quan điểm là nhằm nâng cao giá trị doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, các công ty sử dụng các hành vi tránh né thuế trong khuôn khổ pháp luật bằng cách sử dụng những phương pháp hạch toán có lợi, khai thác các chương trình ưu đãi của các cơ quan nhà nước. Điều này khác với hành vi trốn thuế của doanh nghiệp bằng cách như không xuất hóa đơn để điều chỉnh doanh thu hoặc mua hóa đơn để tăng chi phí. Các nghiên cứu được thực hiện bởi Grantley Taylor, Grant Richardson (2012), David Guenther (2014) đã tiến hành đo lường yếu tố tuân thủ thuế này bằng phương pháp có thể kể đến như phương pháp sử dụng thuế suất hiệu dụng CTA (được hiệu là tỷ lệ thuế TNDN chia cho thu nhập chịu thuế hoặc lợi nhuận trước thuế) hoặc phương pháp xem xét lỗ hổng thuế (book tax gap). Tỷ lệ CTA được hiểu là bao gồm CTA kế toán hoặc CTA theo dòng tiền mặt dài hạn.
Các động cơ của hành vi tránh thuế: Động cơ sau cùng và quan trọng nhất vẫn là tiết kiệm thu nhập từ các khoản thuế tránh được. Việc này giúp cho doanh nghiệp có lợi nhuận cao hơn mang đến cơ hội đầu tư, cơ hội thu hút vốn trên thị trường chứng khoán và dẫn đến sự tăng trưởng về sau cho công ty. Cùng với sự tăng lên thấy được của lợi nhuận, nhà đầu tư cũng sẽ được nhận nhiều cổ tức hơn, nhà quản lý cũng được hưởng lợi từ việc tiết kiệm chi phí thuế như trong nghiên cứu của (Phillip, 2003) cũng nhận thấy thù lao của nhà quản lý trên lợi nhuận sau thuế có liên quan đến thuế suất hiệu dụng thấp hơn (CTA). Slemrod (2004) cũng đã phát triển một mô hình cho thu nhập của nhà quản lý và tránh thuế.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên việc tránh thuế tiềm ẩn những rủi ro quan trọng, như chi phí đại diện của tránh thuế (Croker và Slemrod, 2005), mất kiểm soát nội bộ Chen và Chu (2005), chi phí cơ hội được sử dụng để quản lý thuế, chi phí rủi ro có thể bị phạt bởi cơ quan thuế (Chen và cộng sự, 2010) điều này có thể phát sinh khi hoạt động tránh thuế bị phát hiện qua quá trình thanh tra. Các khoản thanh toán bổ sung kèm lãi suất và tiền phạt do cơ quan thuế áp đặt sẽ gây tác động đền dòng tiền hiện có của doanh nghiệp và uy tín của công ty. Tuy tránh thuế mang lại lợi ích cho cổ đông và công ty dưới hình thức lợi nhuận tăng lên từ tiết kiệm thuế, thì đi kèm với lợi ích này là chi phí rủi ro lớn tuỳ thuộc vào cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp, trong lập luận của Shakelford và Shevlin (2010) cho rằng cơ cấu sở hữu là một yếu tố quyết định tiềm ẩn của việc né tránh thuế. Trong điều hành doanh nghiệp, ban lãnh đạo và hội đồng quản trị là yếu tố quyết định quan trọng nhất đến định hướng phát triển và sự tồn tại của công ty.
Định hướng của công ty là tối đa hoá lợi nhuận của cổ đông và chủ sở hữu, thì các thành viên đều hành như nhà quản lý hoặc hội đồng quản trị sẽ có nghĩa vụ nâng cao giá trị của công ty phù hợp với nhân tố kiểm soát là chủ sở hữu thực sự (là nhà nước hoặc tư nhân, là nội địa hoặc nhà đầu tư nước ngoài) 2. Phương pháp đo lường hành vi tránh thuế: Trong luận văn này tác giả sử dụng 4 biến CTA1, CTA2, CTA3, CTA4 để đại diện cho hành vi tránh thuế được đo lường bằng cách tổ hợp 4 nhân tố: chi phí thuế TNDN hiện hành, tổng chi phí thuế TNDN, lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp và dòng tiền tự do của doanh nghiệp. Cụ thể: - CTA1 là tỷ lệ của chi phí thuế hiện hành trên lợi nhuận trước thuế - CTA2 là tỷ lệ của chi phí thuế hiện hành trên dòng tiền tự do của doanh nghiệp - CTA3 là tỷ lệ của tổng chi phí thuế trên lợi nhuận trước thuế - CTA4 là tỷ lệ của tổng chi phí thuế trên dòng tiền tự do của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Doanh nghiệp có mức độ tuân thủ thuế càng lớn nghĩa là tỷ lệ thuế TNDN càng cao thì khả năng né tránh thuế càng thấp.
Thông qua việc ước lượng và kiểm định mối quan hệ giữa các biến với tỷ lệ thuế TNDN thể hiện qua 4 biến trên để tìm ra mối liên hệ giữa các biến CTA1, CTA2, CTA3, CTA4 với các biến: quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và cường độ vốn. Đối với các yếu tố có mối tương quan thuận với mức độ tuân thủ thuế (cùng chiều với tỷ lệ đóng thuế TNDN theo các biến CTA1, CTA2, CTA3, CTA4) thì sẽ có tương quan nghịch với hành vi né tránh thuế (nghĩa là khả năng thực hiện hành vi né tránh thuế càng thấp. Và ngược lại các yếu tố có mối tương quan nghịch với mức độ tuân thủ thuế (ngược chiều với các biến CTA1, CTA2, CTA3, CTA4) thì sẽ tương quan thuận với hành vi né tránh thuế (nghĩa là khả năng thực hiện việc né tránh thuế càng cao) 2. Sở hữu nước ngoài và sở hữu nhà nước.
Sở hữu nước ngoài: - Tỷ lệ sở hữu nước ngoài là tổng tỷ lệ cổ phần sở hữu, phần vốn góp có quyền biểu quyết của tất cả các nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức nước ngoài trong doanh nghiệp. Theo luật đầu tư 2014 đưa ra các khái niệm sau: - Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo luật pháp nước ngoài thực hiện đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Hiện nay các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam gồm có: + Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế. + Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế.
+ Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP). + Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC). Trong giai đoạn 2010-2015 nhìn chung chính phủ giới hạn quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài chỉ ở mức 49%, kể từ sau Nghị định 60/NĐ-CP/2015 cho phép nhà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu tư nước ngoài mua cổ phần không hạn chế trong những lĩnh vực kinh doanh không qui định điều kiện thì đã có những thay đổi đáng kể về quyền sở hữu cũng như tính chất của doanh nghiệp. Dù có những nhận định về việc khi cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các doanh nghiệp trong nước sẽ được xem như con dao hai lưỡi đối với thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.
Các nhà đầu tư nước ngoài với điểm mạnh về năng lực, nguồn vốn, kỹ thuật công nghệ và kinh nghiệm khi tham gia các doanh nghiệp trong nước sẽ mang đến nguồn tài nguyên dồi dào để phát triển doanh nghiệp tuy nhiên động cơ tránh thuế cũng gia tăng khi động cơ lúc này tập trung vào chính là tối đa hóa lợi nhuận. Có nhiều nghiên cứu về tác động đến hành vị tránh thuế của yếu tố sở hữu nước ngoài như Demirgue-Kunt và Huizinza (2001); Mahenthiran và Kasipilai (2012). Tuy nhiên kết quả nghiên cứu lại khác nhau tùy thuộc vào chính sách và điều kiện của quốc gia và vùng đó Khi điều tra kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán của các công ty Châu Âu tại 34 quốc gia, Huizinga và Nicodeme (2006) đã tìm ra mối liên hệ giữa tỷ lệ sở hữu của các tổ chức nước ngoài và thuế suất thuế TNDN bằng phương pháp ước lượng OLS, trong đó các quốc gia có tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao hơn có mức thuế cao hơn. Sở hữu nhà nước: Khá nhiều các nghiên cứu trước đây được thực hiện như của Desai và Dharmapala (2006); Chen và các công sự (2010); Minnick và Noga (2010); Amstrong và các cộng sự 2012; Warhab và Holland (2012); Chan và các cộng sự (2013) nhưng mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và hành vi tránh thuế TNDN vẫn chưa thật sự rõ ràng.