Mở đầu từ trang 10 đến trang 20. Nội dung nghiên cứu từ trang 21 đến trang 159. *Chuong |: Cơ sở lý luận và thực tiễn của dé tài nghiên cứu, từ trang 21 đến trang 63; *Chuong 2:Truyền thông thay đổi hành vi và mức độ tiếp nhận thông điệp truyền thông của nhóm phụ nữ giáo dân, từ trang 64 đến trang 106; *Chuong 3: Tác động của truyền thông thay đổi hành vi đến các giai đoạn chuyển đổi hành vi thực hiện chính sách dân số-kế hoạch hoá gia đình, từ trang 107 đến trang 158; *Kết luận và kiến nghị từ trang 159 đến trang 162. I9 KHUNG LÝ THUYET - Các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá, tôn giáo, môi trường - Chương trình dân số, SKSS/KHHGĐ Truyền thông thay đổi hành vi Truyền thông Truyền thông Truyền thông | không chính trực tiếp: Chính đại chúng: thức: giữa vợ quyền, Đoàn Truyền hình, chồng, bạn thể, Tổ chức xã phát thanh, bè, cha mẹ- hội, Các chức báo chí con cái sắc tôn giáo Các giai đoạn chuyển đối hành vi Tuyên Có N Tiếp tục truyền địn thực vận thực hiện hiện động người khác Thực hiện chính sách DS- KHHGĐ 20 PHAN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CUU Z CHUONG 1 CO &Ö LY LUẬN VA THỰC TIẾN CUA DỀỄ TÀI NGHIÊN CÚU Dân số đang là vấn đề toàn cầu.
Hành tinh chúng ta đã và đang trở nên quá chật chội với tốc độ gia tăng dân số như hiện nay. Nếu không kiềm chế sự gia tăng dân số, chúng ta không thể thoát khỏi đói nghèo, bệnh tật, huỷ hoại môi trường,.Dân số gắn với phát triển. Chỉ giải quyết tốt vấn dé gia tăng dan số mới có cơ hội phát triển. Và truyền thông được xem là giải pháp quan trong, là chìa khoá để ổn định tình hình dân số.
Chương | giai quyết một số vấn dé liên quan đến nội dung nghiên cứu: 1. TTDS và TTTĐHV; 2. TTTĐHV va các giai đoạn chuyển đổi hành vi; 3. Quan điểm mới của Giáo Hội Thiên Chúa giáo về sinh sản và điều hòa sinh sản; 4.
Mô tả nhóm phụ nữ giáo dân, đối tượng của TTTDHV. TRUYEN THONG THAY ĐỔI HÀNH VI 1.Truyền thông Truyền thông được ứng dụng trong các lĩnh vực hoá học, vật lý. tâm lý học, phương thức hành vi của hệ thống máy móc, hệ thống người-máy. Đã có 160 định nghĩa khoa học xã hội về truyền thông dựa trên sự phân loại truyền thông theo cấu trúc một chiều, đối xứng và không có thong tin cấu 21 trúc.
Trong đời sống xã hội, xuất hiện một số loại hình truyền thông như truyền thông liên cá nhân, truyền thông nội tại cá nhân, truyền thông trực tiếp, truyền thông gián tiếp, truyền thông tư nhân, truyền thông công cộng, truyền thông sơ cấp, truyền thông đại chúng. Trong khuôn khổ các tổ chức, còn có truyền thông theo chiều ngang của các thành viên cùng cấp bậc và truyền thông theo chiều doc giữa các dia vị của những bình diện khác nhau. Tựu trung, truyền thông được xem là "phạm trù cơ bản mà qua nó các hệ thống xã hội được hình thành và tiếp tục phát triển,.Thông qua truyền thông các giá trị và chuẩn mực được chuyển giao và xã hội hoá" .519] Cơ sở công thức truyền thông do nhà chính trị học người Mỹ Harold Lasswell dé xuất: "Ai nói cái gi theo kênh nao đến anh nhằm tác động gì?" Hay "Nơi phát-----thông điệp------- kênh----nơi nhận---tác động”. Trong xã hội học, truyền thông dùng để "chỉ quá trình trung chuyển giữa con người.
Quá trình thông báo này, sự trao đổi qua lại kinh nghiệm, trí thức, tư tưởng, ý kiến, tình cảm có thể sử dụng các hệ thống ký hiệu khác nhau theo dạng phi ngôn từ, bán ngôn từ và ngôn từ. Hệ thống thông báo phân hoá nhất này được tạo lập từ tổ hợp ký hiệu tổng hợp của ngôn ngữ đòi hỏi nắm vững khối lượng rất nhiều các quy tắc và chỉ dẫn đối với vật phát cũng như vật thu, để đạt được sự thông hiểu lẫn nhau hoàn chỉnh nhất có thể của các đối tác truyền thông". 518} Trong lĩnh vực xã hội học truyền thông, M. Weber là người có đóng góp rất lớn.
Chính ông là người dé xuất và cấu trúc nội dung bộ môn xã hội học báo chí. Hơn thế, ông cũng là người chỉ ra vai trò của báo chí đối với sự hình thành dư luận xã hội. Parson cũng có những đóng góp nhất định cho lý thuyết xã hội học truyền thông khi ông cho rằng thông tin là quá trình cơ bản của hệ thống xã hội. Do có vị trí trung tam đối với quá trình xã hội hoá con người, cũng như đối với sự hình thành và phát triển các cộng đồng người, truyền thông đã được trường phái xã hội học Chicago hết sức quan tâm.
Lazarsfeld đã đặt nền móng nghiên cứu truyền thông và tác động của môi trường truyền thông qua phân tích những người nghe đài và sự lựa chọn của họ.ap trung nghiên cứu truyền thông đại chúng (TTDC) va các phần tử của quá trình truyền thông. Ronneberger không chỉ dừng lại ở các nghiên cứu truyền thông công cộng và TTDC, mà còn nghiên cứu chính sách truyền thong trong truyền thông xuất bản. Gần đây xuất hiện những nghiên cứu về mô hình truyền thông, phong cách truyền thông có đặc thù văn hoá, khoảng cách tri thức giữa người được thông tin và người không được thông tin theo hướng liên ngành với sự tham gia của các nhà tâm thần học, nhân học văn hoá, dân tộc học, ngôn ngữ học,. TTĐC vẫn là chủ đề được giới nghiên cứu rất quan tâm.
Công trình "Hiệu quả của TTĐC"của K. Hallahan và "Các động thái của TTDC" của J. Dominick đã trình bày lý thuyết truyền thông, phân tích tác động của truyền thông đến xã hội, cũng như mối quan hệ giữa truyền thông và văn hoá.Truyền thông dân số (TTDS) Các tổ chức truyền thông quốc tế thống nhất sử dụng định nghĩa dưới đây như định nghĩa về TTDS: "Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, kiến thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng nhằm tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau giữa bên truyền và bên nhận để dẫn đến sự thay đổi trong nhận thức và hành vi".Tình hình nghiên cứu trên thế giới Là quá trình then chốt tạo ra những thay đổi trong hiểu biết về các BPTT, kiểm soát sinh và quy mô gia đình, TTDS được đưa vào hoạt động từ giữa thế kỷ XX để đáp ứng yêu cầu của các chương trình quốc gia về KHHGD. Vào những năm 60, mô hình TTDS về KHHGĐ phat triển mạnh.
Nó được mô phỏng theo mô hình "kỷ nguyên phòng khám”. Khi khảo sát mô hình trên, Roger và Stycos nhận thấy, những người được thông tin về dịch vụ qua 23 TTĐC và truyền miệng đã đến phòng khám và thực hiện dịch vụ KHHGĐ. Nhưng mô hình đó không đáp ứng được lợi ích của đại đa số dân chúng. Bởi đối với số người, trao đổi những vấn đề tế nhị như vấn dé KHHGD tại phòng khám là điều không thể chấp nhận.
Còn đối với một số khác, chi phí để nhận dich vụ KHHGPĐ tại phòng khám lại quá cao. Đến những năm 70, TTDS đã chuyển tải các kiến thức về KHHGĐ. Nhờ đó, khoảng 70-80% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ hiểu biết các BPTT mới. Nhưng không phải tất cả những ai hiểu biết KHHGĐ đều thực hiện KHHGĐ.
Freedman cùng các cộng sự đã để xuất Điều tra kiến thức (Knownledge), thái độ (Attitude) và thực hiện (Practice) về KHHGĐ, gọi tắt KAP. Kết quả cho thấy, tồn tại một khoảng cách lớn piữa hiểu biết và thực hiện KHHGD. Cùng thời gian này, W. Schramm đã xuất bản cuốn "Truyền thông trong KHHGD".
Qua khảo sát chương trình truyền thông của I nước, Schramm đã tổng kết 3 yếu tố góp vào thành công của chương trình KHHGĐ. Đó là sự sẵn có của các dịch vụ, việc cán bộ dân số đến tận nhà vận động và hoạt động của TTĐC. Riêng về TTĐC, W. Schramm cho rằng phát thanh là phương tiện đứng đầu trong việc tuyên truyền KHHGĐ.
Các chiến dịch TTDS qua phát thanh đã góp phần nâng ty lệ sử dụng BPTT của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và do vậy, đã làm giảm mức sinh. Trong nghiên cứu "Chiến lược truyền thông về KHHGD", M. Everett thuộc Khoa Truyền thông và Báo chí, Đại học New Mexico cũng đã nghiên cứu các loại hình TTĐC về KHHGD. Everett viết: "Phát thanh là phương tiện TTDC chủ đạo của các cuộc van động KHHGD" và "các hình thức tranh cổ động và truyện ngắn truyền thanh về KHHGD đã bat đầu phát triển ở Hồng Kông và Hàn quốc.
Phổ biến nhất là các cuộc nói chuyện, trả lời phỏng vấn của các bác si".9} Hơn thế, nghiên cứu của M. Rogers đã chỉ ra:"Thé mạnh nữa của TTDC, đó là tạo ra dư luận xã hội". Song tác gia cũng phân tích hạn chế cơ bản của TTĐC là "không thể biết công chúng tiếp nhận thông điệp như thế nào. Trong khi đó truyền thông trực tiếp đem lại không khí cởi mở piữa bên truyền và bên nhận đối với thông diép".9} 24 Về tác động của truyền thông trực tiếp, Schramm khẳng định: "Mười năm kinh nghiệm KHHGD cho thấy, thông tin trao đổi giữa các đoàn thể có thể tạo ra nhận thức và thái độ của người chấp nhận mới".
Lợi thế của truyền thông trực tiếp được tác giả mô ta:"Cac sai sót trong hoạt động TTDC được giải đáp kịp thời bằng truyền thông trực tiếp. Và truyền thông trực tiếp còn có ưu điểm là nắm được bên nhận tiếp nhận như thế nào và từ đó có thể điều chỉnh nội dung cũng như phương pháp truyền thông sao cho phù hợp với yêu cầu và trình độ của bên nhận”.10]Dé TTDS đạt được hiệu quả, Rogers cho rằng cần quan tâm đến chiến lược truyền thông. Nhấn mạnh đến vai trò của một số yếu tố tác động đến mức sinh, trong đó có truyền thông dân số, R. Freedman trong "Những lý thuyết về giảm sinh: một sự nhìn nhận lai" đã gợi mở hướng tư duy mới.
Theo ông, học vấn và truyền thông đã làm thay đổi hành vi sinh sản của con người và đó cũng chính là những yếu tố thúc đẩy sự biến đổi của mức sinh.146]} Vẫn tiếp tục tìm hiểu ảnh hưởng của TTDS đối với mức sinh, R. Freedman trong"Asia's recent fertility decline and prospects for future demographic change" cho rang:"Do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, xã hội, văn hoá và truyền thông đã dẫn đến sự cải thiện đáng kể về sức khoẻ, vị trí và vai trò của phụ nữ, tác động một cách hiệu quả đến tỷ suất sinh ở các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay,.Nguyén nhân giảm sinh là vô cùng phức tạp. Song lời giải thích có thể nằm trong những tư tưởng mới nảy sinh nhờ hệ thống truyền thông"”.