Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết về tín dụng ngân hàng và tăng trưởng kinh tế đồng thời điểm qua các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Trình bày các giả thuyết nghiên cứu mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô tả số liệu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu. Chương này tác giả phân tích kết quả thống kê mô tả, kết quả hồi quy và đưa ra các thảo luận của kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách.
Trình bày tóm tắt các kết quả đã đạt được. Đề ra các hàm ý chính sách và hạn chế cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Trong chương này, tác giả tập trung nêu các khái niệm và lý thuyết nền của bài nghiên cứu. Ngoài việc nghiên cứu lý thuyết tác giả còn tổng hợp một số nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến nội dung bài viết.
Chính việc tổng hợp lý thuyết và thực nghiệm giúp tác giả xây dựng được các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và là nền tảng để giải thích kết quả bài nghiên cứu. Tín dụng Ngân hàng Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán (Lê Văn Tề, 2009). Theo Lê Văn Tề (2009), bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau: Tài khoản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Trong những năm 1960 trở về trước, hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho vay bằng tiền.
Xuất phát từ năm 1970 trở lại đây, cho thuê vận hành và cho thuê vận hành là cho thuê tàu chính đã được các ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác cung cấp cho khách hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực (nhà ở, văn phòng làm việc, máy móc – thiết bị). Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là một yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. 5 Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả them phần lãi ngoài vốn gốc.
Để thực hiện nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác phải xác định Nguồn vốn con nguời dương (Nguồn vốn con nguời = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát). Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, nên trong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạm phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước… thực chất là lệnh phiếu (promissory note), trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên vay khi đến hạn thanh toán.
Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong một khoảng thời gian nhất định. Hay nói cách khác tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian hay là sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế. Vì vậy nó tạo tiền đề cho sự phát triển nói chung và là cơ sở để thực hiện hàng loạt các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội. Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải thay đổi tích cực trong thu nhập quốc dân hoặc trình độ sản xuất hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia trong một thời gian nhất định (Oluitan, 2009).
Một quốc gia có tăng trưởng kinh tế cao đồng nghĩa với sự tăng lên nhanh hơn về quy mô nền kinh tế. Đây là điều kiện tiên quyết để mỗi quốc gia duy trì được vị trí dẫn đầu hoặc đuổi kịp các nền kinh tế đã phát triển khác. Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh không phải bằng mọi giá. Tăng trưởng kinh tế quá nóng sẽ dẫn đến lạm phát cao, nền kinh tế có biến động lớn và khó kiểm soát, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.
Tăng trưởng kinh tế được đo về mức độ sản xuất 6 trong nền kinh tế, năng suất nhân tố, thay đổi công nghệ, tích lũy vốn vật chất và Tổng sản phẩm (GDP) (Odedokun 1998; Allen & Ndikumama 1998; King và Levine 1993). Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 2. Lý thuyết tăng trưởng cổ điển của Adam Smith Adam Smith (1923- 1970) được coi là người sáng lập ra kinh tế học với tác phẩm tiêu biểu là “Sự giàu có của quốc gia”. Theo ông chính lao động được sử dụng trong những hoạt động có ích, có hiệu quả là nguồn gốc tạo ra giá trị của xã hội.
Số công nhân hữu ích và hiệu quả cũng như năng suất lao động của họ phụ thuộc vào lượng tư bản tích lũy. Adam Smith coi sự gia tăng tư bản là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế. Ông đưa ra hai học thuyết cơ bản: - Học thuyết về “giá trị lao động”: Lao động là nguồn gốc tạo ra của cải cho đất nước chứ không phải đất đai và tiền bạc. - Học thuyết “bàn tay vô hình”: Mọi cá nhân không có ý định thúc đẩy lợi ích công cộng mà chỉ nhằm vào lợi ích của riêng mình, và ở đây cũng như trong nhiều trường hợp khác, người đó được một bàn tay vô hình dẫn dắt để phục vụ một mục đích không nằm trong ý định của mình.
Lý thuyết tăng trưởng của David Ricardo Lý thuyết tăng trưởng David Ricardo được coi là tác giả xuất sắc nhất của trường phái cổ điển, ông đã kế thừa tư tưởng của Adam Smith và chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân số học của Malthus để sáng lập ra học thuyết của riêng mình “Mô hình tăng trưởng của Ricardo”. Các giả định mô hình tăng trưởng của Ricardo: - Lao động (L) là nguồn gốc tạo ra của cải. - Yếu tố nguồn vốn (K) là yếu tố trực tiếp tăng sản lượng. Vì vậy không có sự xuất hiện của chính phủ vì chi phí của chính phủ không sinh lời và làm giảm động lực tích lũy của doanh nghiệp.
- Nền kinh tế truyền thống với nông nghiệp là yếu tố chi phối. - Tồn tại quy luật lợi tức biên giảm dần theo quy mô, yếu tố công nghệ tác 7 động yếu ớt, coi như bằng không. Theo Ricardo có 3 yếu tố tác động đến tăng trưởng là: Lao động (L), vốn (K)và đất đai (R). Như vậy, hàm sản xuất được biểu diễn dưới dạng toán học như sau: Y = f (L, K, R) Theo Ricardo trong 3 yếu tố thì đất đai (R) là yếu tố quan trọng nhất.
Đất đai chính là giới hạn của tăng trưởng. Vì khi sản xuất nông nghiệp gia tăng trên những đất đai kém màu mỡ hơn thì giá lương thực, thực phẩm sẽ tăng lên. Do đó tiền lương danh nghĩa tăng lên, lợi nhuận của nhà tư bản giảm. Cho tới khi đất đai đạt điểm dừng tại R o và Y sẽ đạt sản lượng tối đa, tại đó sẽ là giới hạn của tăng trưởng.
Khi đó nền kinh tế chia làm hai khu vực công nghiệp. Như vậy khi chưa đến điểm dừng Ro thì R là yếu tố quyết định tăng trưởng, khi đạt đến điểm dừng Ro thì tích lũy cho khu vực công nghiệp mới là yếu tố quyết định tăng trưởng. Như vậy lý luận của Ricardo là: Tăng trưởng là hàm của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận lại phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí sản xuất lương thực phụ thuộc vào đất đai. Do đó đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng.
Lý thuyết tăng trưởng của Keynes và Mô hình Harrod-Domar Adam Smith dựa vào lý thuyết bàn tay vô hình, mọi thành phần trong nền kinh tế đều muốn thu được lợi ích cao nhất vì vậy họ sẽ hành xử thông minh nhất. Học thuyết Keynes thì coi trọng vai trò điều tiết của chính phủ. Năm 1940 nhà kinh tế học Anh là Harrod và nhà kinh tế học Mỹ là Domar đã độc lập công bố mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào vốn. Logic của lý thuyết này là trong thu nhập của một quốc gia (cũng như một cá nhân) bao gồm hai khoản là: Tổng nguồn vốn (để đầu tư) và tiêu dùng.
Đầu tư thì sẽ mang lại thu nhập trong tương lai trong khi tiêu dùng là khoản tiền chi ra ở hiện tại. Vì vậy tỷ lệ Tổng nguồn vốn càng lớn thì tăng trưởng càng nhanh. Giả định của mô hình Harrod-Domar bao gồm: (i) Cố định công nghệ. Hàm sản xuất không có yếu tố T; (ii) Quy luật lợi tức cận biên giảm dần không chi phối sản 8 xuất; và (iii) Tổng đầu tư = tổng Tổng nguồn vốn - tổng mức vốn sản xuất gia tăng.
Hàm sản xuất được thể hiện như sau: Y = f (L, K, R) Các nhân tố tác động tới tăng trưởng chỉ gồm có: Lao động (L), nguồn vốn (K), và đất đai (R). Để tăng trưởng kinh tế cần đầu tư vào vốn dự trữ. Hay nói khác, Tổng nguồn vốn (S) và đầu tư (I) là yếu tố quyết định tăng trưởng trong mô hình Harrob – Domar. Chính vì vậy có sự xuất hiện của chính phủ trong việc điều tiết các nguồn Tổng nguồn vốn, tích lũy và đầutư.
Mô hình cũng đưa ra cách tính hệ số sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư tăng trưởng ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) có ý nghĩa thực tế trong việc đánh giá năng lực quản lý, giá cả của đầu tư trong hoàn cảnh yếu tố công nghệ như nhau.