Chương 1. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu. Nội dung của chương này tập trung làm rõ về: i) cơ sở lý thuyết như các định nghĩa về thương mại quốc tế, việc làm và cơ hội việc làm, việc làm bền vững, cầu lao động và lý thuyết về ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến việc làm; ii) tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến việc làm, việc làm theo giới, việc làm theo trình độ chuyên môn kỹ thuật và ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến cơ hội việc làm. Phương pháp nghiên cứu Nội dung của chương này tập trung vào làm rõ cơ sở đề xuất các mô hình phân tích như mô hình phân tích tác động thương mại quốc tế đến việc làm, thương mại quốc 8 tế đến việc làm theo kỹ năng và mô hình phân tích tác động của thương mại quốc tế đến cơ hội việc làm.
Bên cạnh đó chương này cũng làm rõ phương pháp ước lượng cho các mô hình của luận án. Thực trạng thương mại quốc tế và vấn đề việc làm ở Việt Nam Nội dung của chương 2 tập trung vào phân tích thực trạng thương mại quốc tế ở Việt Nam thông qua các chỉ số về xuất nhập khẩu và cán căn thương mại. Bên cạnh đó khái quát về thực trạng việc làm cũng được trình bày. Phân tích tác đôngj của thương mại quốc tế đến vấn đề việc làm Chương này báo cáo sẽ tập trung vào mô tả mô hình, số liệu sử dụng và kết quả ước lượng tác động của thương mại quốc tế đến lao động việc làm ở cấp ngành, cấp doanh nghiệp để chỉ ra tác động của thương mại quốc tế đến cầu lao động, cầu lao động nữ, lao động trình độ thấp và đến cơ hội việc làm.
Các kết quả được so sánh với các nghiên cứu khác để kiểm chứng thêm kết quả nghiên cứu. Kết luận và định hướng chính sách Nội dung của chương này tập trung rút ra một số kết luận từ nghiên cứu, bên cạnh đó là một số định hướng chính sách nhằm tận dụng cũng như hạn chế những tác động tiêu cực của thương mại quốc tế đến vấn đề việc làm. Những điểm mới cũng như những hạn chế của luận án được trình bày tại chương này. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Thương mại quốc tế Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các nước nhằm mục đích đem lại lợi ích kinh tế. Định nghĩa này được đồng thuận bởi Economics Concepts (2012), đã định nghĩa thương mại quốc tế là thương mại xuyên biên giới. Trao đổi hàng hoá và dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội, nó phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia. Ở hầu hết các quốc gia, thương mại quốc tế chiếm một phần quan trọng đáng kể về kinh tế, xã hội và chính trị.
Do đó, nếu không có thương mại quốc tế, các quốc gia sẽ bị giới hạn trong các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong biên giới của chính họ. Tuy nhiên, Economics Concepts Concept (2012) cho biết thương mại quốc tế đòi hỏi các chi phí như thuế quan và các chi phí khác liên quan đến sự khác biệt của quốc gia như ngôn ngữ, hệ thống pháp lý hoặc văn hóa cũng phải chịu. Các yếu tố sản xuất như vốn và lao động thường di chuyển tự do trong một quốc gia hơn là giữa các quốc gia (Danjuma và cộng sự , 2014). Việc làm và cơ hội việc làm Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật.
Người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật”. Theo khoản 1, Điều 9, Chương II của Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Việc làm là họat động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: hoạt động lao động, tạo ra thu nhập và hoạt động này phải hợp pháp. Cụ thể như sau: thứ nhất, nó phải là hoạt động lao động, thể hiện sự tác động của sự lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ; thứ hai, hoạt động đó phải tạo ra thu nhập; thứ ba, hoạt động này phải hợp pháp, tức là các hoạt động lao động tạo ra thu nhập phải được pháp luật thừa nhận.
Do đó, tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động. 10 Theo Humphrey, Albert (2005) định nghĩa cơ hội “là những sự việc bên ngoài không thể kiểm soát được, có thể là những lợi thế tiềm năng mang lại khả năng thành công”. Theo Emet, Merba (2017), cơ hội được hiểu là “một tình huống hoặc điều kiện phù hợp cho một hoạt động có khả năng xảy ra, được xem là lợi thế và động lực cho một hoạt động diễn ra mang đặc tính tích cực và thuận lợi”. Cơ hội là mang lại kết quả tích cực cho cá nhân được xác định dựa trên điều kiện hệ sinh thái có thể tác động.
Trên thực tế, cơ hội là “những điều kiện môi trường bên ngoài cho phép cá nhân có khả năng tận dụng điểm mạnh và khắc phục điểm yếu hoặc hạn chế các mối đe dọa, nguy cơ về môi trường tác động đến” (Harrison và St. Như vậy, cơ hội việc làm được hiểu là khả năng của một cá nhân trong việc tham gia vào thị trường lao động với những công việc tạo ra thu nhập hợp pháp. Việc làm bền vững Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2017) xác định việc làm bền vững “liên quan đến những cơ hội việc làm năng suất và mang lại thu nhập công bằng, bảo đảm an toàn tại nơi làm việc và phúc lợi xã hội cho gia đình, triển vọng phát triển con người và hòa nhập xã hội tốt hơn, mọi người có quyền tự do bày tỏ quan điểm, tổ chức và tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng đến đời sống của họ, và cơ hội cũng như đối xử bình đẳng giữa nam và nữ”. Việc làm bền vững được đề cập đến bốn nội dung, bao gồm việc làm, quyền, bảo trợ và đối thoại; những nội dung này không thể tách rời, tương quan và hỗ trợ lẫn nhau thiết lập nên việc làm bền vững cho người lao động.
Đo lường việc làm bền vững (ILO, 2013) là những công việc có đặc điểm: (i) cơ hội việc làm; (ii) thu nhập đầy đủ và công việc hiệu quả; (iii) thời gian làm việc; (iv) cân bằng công việc, gia đình và cuộc sống cá nhân; (v) công việc cần được bãi bỏ; (vi) ổn định và bảo đảm việc làm; (vii) cơ hội và đối xử bình đẳng trong việc làm; (viii) môi trường làm việc an toàn; (ix) an sinh xã hội; và (x) đối thoại xã hội, người sử dụng lao động và đại diện cho người lao động. Trong nghiên cứu này, việc làm bền vững được hiểu là việc làm năng suất và mang lại thu nhập đủ sống, có hợp đồng lao động, tham gia và thủ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo đảm an toàn tại nơi làm việc. Cầu lao động Trên thị trường lao động, cầu lao động là lượng lao động mà người sử dụng lao động chấp nhận thuê ở một thời kỳ nhất định, trong những điều kiện nhất định (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2013). Cầu lao động là nhu cầu dẫn xuất vì nó được xác 11 định dựa trên nhu cầu sản lượng, khối lượng dịch vụ mà yếu tố lao động được dùng để sản xuất hoặc để hoạt động cung ứng dịch vụ.
Cầu lao động được hiểu là số lượng lao động mà các doanh nghiệp có khả năng và sẵn sàng thuê mua ở các mức tiền lương khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định (Vũ Kim Dung, Nguyễn Văn Công, 2013). Tổng cầu lao động của nền kinh tế là toàn bộ nhu cầu về sức lao động của nền kinh tế ở một thời kỳ nhất định, trong những điều kiện nhất định. Trong nghiên cứu này, cầu lao động được hiểu là số lượng lao động cho các vị trí việc làm mà người sử dụng lao động có khả năng và sẵn sàng thuê ở các mức tiền lương khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định và những điều kiện nhất định. Lý thuyết về ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến việc làm Xu hướng thương mại quốc tế ngày càng mở rộng do nhu cầu tiêu thụ và sử dụng hàng hóa trên toàn cầu ngày càng gia tăng, việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia đã thúc đẩy các hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu trên thị trường quốc tế.
Adam Smith đã đề cập đến xu hướng xuất phát từ hành vi của người tiêu dùng và nhà sản xuất “sản xuất, vận chuyển và trao đổi” dẫn đến sự phân công lao động trong xã hội giữa những đối tượng có liên quan. Từ đó, việc phân phối lại các nguồn lực theo nguyên tắc lợi thế so sánh có thể sử dụng nguồn lực phù hợp và hiệu quả hơn cho sản xuất. Kết quả là phản ánh được chi phí các yếu tố đầu vào thấp hơn giá trị của hàng hóa và dịch vụ cuối cùng trong quá trình sản xuất. Ngoài ra, người tiêu dùng và nhà sản xuất được hưởng lợi từ sự lựa chọn lớn hơn về chất lượng sản phẩm đi kèm tối thiểu hóa chi phí.
Như vậy, việc mở cửa thị trường trong nền kinh tế mở sẽ thúc đẩy thu nhập quốc dân và tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, việc điều chỉnh các yếu tố sản xuất nhằm khai thác lợi thế so sánh có thể dẫn đến một số các DN phải đóng cửa và người lao động mất việc làm tại một số khu vực của nền kinh tế. Tự do hóa thương mại (TDHTM) làm tăng dòng thương mại quốc tế tại các quốc gia nhưng cũng có thể gắn liền với nguy cơ mất việc làm và chuyển dịch việc làm. Điều này cho thấy, TDHTM sẽ mang lại những hiệu ứng tích cực và tiêu cực đối với việc làm hiện tại và việc lại tiềm năng cả về số lượng và chất lượng trong nền kinh tế.