Chương 1: Lý luận chung về tác động của thị trường tiền mã hóa đến thị trường chứng khoán 1. Cơ sở lý luận chung về thị trường tiền mã hóa 1. Khái niệm tiền mã hóa Tiền mã hoá là một trong những dạng phổ biến của tiền kỹ thuật số, có tên thuật ngữ trong tiếng Anh là “Crypto currencies” hay “Cryptocurrencies”. Ngân hàng Trung ương Châu Âu (the European Central Bank – ECB) phân loại tiền mã hoá là một bộ phận thuộc tiền ảo (Virtual currencies) và cho rằng tiền mã hoá là hình thức biểu thị mã hóa của giá trị, không do ngân hàng trung ương phát hành, tổ chức tín dụng hay các định chế tiền mã hoá và trong một số trường hợp, có thể được sử dụng như một phương tiện thay thế tiền pháp định thông thường” (ECB, 2015).
Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) xếp loại tiền mã hoá vào nhóm tiền kỹ thuật số (digital currencies) và định nghĩa “tiền mã hoá là biểu thị mã hóa của giá trị, được ghi nhận theo đơn vị thanh toán của riêng nó trong các tài khoản giao dịch, khác với các dạng thức tiền mã hoá (E-money) – các cơ chế thanh toán số – thường đại diện và được ghi nhận, thanh toán theo đơn vị tiền tệ pháp định” (Houben & Snyers, 2018). Định nghĩa về tiền mã hóa vẫn đang được thảo luận. Chưa có một sự nhất quán về việc nó có thể được coi là tiền (hay không) và các nhà nghiên cứu đang cố gắng đưa nó vào các lý thuyết về tiền (Šurda, 2014; Bjerg, 2016). Tuy nhiên, có sự đồng thuận rằng tiền mã hóa có thể được coi là một phương tiện trao đổi kỹ thuật số và một hệ thống thanh toán phi tập trung dựa trên mật mã (Luther & White, 2014; Šurda, 2014; Osterrieder & Lorenz, 2017).
Dựa trên đề tài nghiên cứu và những định nghĩa về tiền mã hóa, nhóm nghiên cứu nhận định tiền mã hóa là một dạng tiền kỹ thuật số, có chức năng như là một phương tiện để làm trung gian thanh toán và sử dụng mật mã để bảo mật cho các giao dịch này. Tiền mã hóa là một dạng tiền hoàn toàn khác với tiền thông thường và về mặt lý thuyết chúng không cần đến chính phủ hay ngân hàng vì chúng được tạo ra từ công nghệ chuỗi khối, không phải được phát hành từ cơ quan trung ương nào. Lịch sử phát triển thị trường tiền mã hóa Trong suốt chặng đường hình thành và phát triển, tiền mã hóa đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, từ lúc Chaum và cộng sự (1988) cho ra đời ý tưởng sơ khai về một loại tiền không tồn tại ở dạng vật chất và có thể giao dịch ẩn danh cho tới khi có thể hiện 9 thực hóa những giao dịch đầu tiên bằng nó (Pitta, 1999). Ý tưởng về một loại tiền như thế vẫn chưa nhận được sự quan tâm từ phía công chúng nhưng không vì thế mà tiền mã hóa lụi tàn và biến mất mà từng bước cải thiện và phát triển qua các phiên bản khác nhau như Dai (1998), Morgen (2012) và đáng chú ý nhất là Bitcoin bởi Nakamoto (2008).
Cũng trong năm đó Satoshi Nakamoto đã tung ra bản cáo bạch có tên “Bitcoin - Hệ thống tiền mặt mã hóa ngang hàng”, mô tả chức năng của mạng blockchain Bitcoin. Sáu tháng sau khi bắt đầu giao dịch vào tháng 4 năm 2010, giá trị của một Bitcoin thấp hơn 14 xu. Bitcoin đã bước đầu chứng minh được giá trị thực trong giai đoạn từ năm 2010 - 2014 khi hàng loạt các bài báo được đăng tải bởi (Gawker) cũng như của Forbes với chủ để “ loại tiền mã hóa mới” đã thu hút được sự quan tâm từ các nhà đầu tư. Giai đoạn này cũng đánh dấu sự ra đời của loại tiền mã hóa khác là Ripple tuy nhiên nó không thu hút được nhiều sự quan tâm như là Bitcoin.
Giai đoạn 2014 - 2016 chứng kiến thời kỳ đen tối của tiền mã hóa khi đặc tính ẩn danh và thiếu tính kiểm soát của đồng tiền này tạo điều kiện cho các tội phạm sử dụng để kinh doanh đa cấp, lừa đảo, thao túng thị trường dẫn đến thiệt hại nặng nề cho các nhà đầu tư cũng như cho toàn xã hội. Nhưng chỉ 2 năm sau đó, kỷ nguyên ánh sáng đối với tiền mã hóa đã mở ra khi các quốc gia có những chính sách để kiểm soát tốt hơn về tiền mã hóa cũng như chính các đồng tiền này được nâng cấp và ra đời nhiều hơn với độ bảo mật cao hơn và nhiều ứng dụng hơn đưa vốn hóa của thị trường lên một tầm cao mới.1: Tổng vốn hóa thị trường tiền mã hóa từ 2014 - 2022 Nguồn: Coinmarketcap. Tác động của thị trường tiền mã hóa đến nền kinh tế Hai thập kỷ trở lại đây thì hệ thống tài chính toàn cầu có sự chuyển đổi lớn thông qua “Cuộc cách mạng Fintech”. Mục tiêu chính của công nghệ tài chính (fintech) là sử dụng công nghệ trong việc thiết kế và cung cấp các dịch vụ tài chính giúp công chúng dễ dàng cận (Gomber và cộng sự, 2018) để cung cấp vốn dư thừa cho thị trường vốn, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của các quốc gia.
Sự ra đời và tham gia vào hệ thống tài chính toàn cầu của tiền mã hóa đã mang lại nhiều lợi thế để khắc phục những hạn chế chính trong hệ thống tài chính truyền thống. Thị trường tiền mã hóa có giá trị tăng từ 17,7 tỷ USD vào đầu năm 2017 lên 1,500 tỷ USD vào tháng 3, 2021 (coinmarketcap. Các nhà đầu tư có thể được hưởng lợi từ chi phí giao dịch thấp (cho vay ngang hàng - P2P lending), mức độ bảo mật cao (sử dụng công nghệ blockchain), phân quyền, dễ sử dụng và thanh toán theo thời gian thực. Sự tăng trưởng của thị trường tiền mã hóa là hiện tượng thu hút sức chú ý đáng kể trong những năm qua.
Tiền mã hóa đã và đang là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển, tiến hóa của tiền tệ và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống như: công nghiệp game, công nghệ thông tin, giao dịch mua bán… Nhờ có sự phát triển và lan rộng mạnh mẽ của loại tiền này, thị trường tiền tệ sẽ có một hướng phát triển mới trong tương lai với mục đích giải quyết những vấn đề còn tồn đọng tại của hệ thống tiền tệ hiện hành. Điều này đặt ra cho các nghiên cứu phải đưa ra được các nhận định về những sự tác động mà tiền mã hóa có thể đem lại theo cả hai hướng. Mặc dù chưa thể so sánh với vốn hóa của toàn thị trường chứng khoán, một nơi giao dịch lâu đời của các nhà đầu tư và cũng là nơi huy động vốn ưa thích của doanh nghiệp, tuy nhiên thị trường tiền mã hóa đang thể hiện một sự tăng trưởng vượt bậc và ngày càng thu hút các nhà đầu tư với những ưu điểm vượt trội của loại đồng tiền này. Vì vậy ngày càng nhiều người tin vào những đồng tiền mã hóa này, họ kỳ vọng nó sẽ tăng trưởng trong tương lai và đem lại cho họ lợi nhuận cả trong ngắn hạn và dài hạn hoặc xa hơn sẽ là phương tiện trao đổi mới thay thế hoàn toàn hoặc tồn tại song song với tiền giấy hiện tại.
Vì thế khi tiền mã hóa ngày càng thu hút sự quan tâm của mọi người và từ đó thu hút những người mà lâu nay đang đầu tư trong thị trường chứng khoán chuyển sang đầu tư tiền mã hóa hoặc sẽ khiến cho các nhà đầu tư phân chia danh 11 mục của họ. Bởi vậy khi tiền mã hóa ngày càng thu hút được các nhà đầu tư, nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các sản phẩm tài chính khác đặc biệt là chứng khoán. Cơ sở lý luận chung về thị trường chứng khoán 1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi cổ phiếu hoặc trái phiếu giữa các nhà đầu tư để qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ và sở hữu chứng khoán. Các giao dịch này được thực hiện thông qua môi giới là các công ty chứng khoán.
Thị trường chứng khoán có thể bao gồm các loại cổ phiếu được niêm yết trên sàn chứng khoán hoặc các loại cổ phiếu giao dịch không công khai như chia cổ phần thông qua việc gọi vốn cộng đồng. Lợi tức trên thị trường chứng khoán (stock return) là thu nhập được từ việc nắm giữ một chứng khoán. Nó bao gồm lãi suất hoặc cổ tức cộng với phần lãi (hoặc trừ đi phần lỗ) về vốn do giá chứng khoán tăng (hoặc giảm) trong một thời kỳ nhất định so với giá mua ban đầu. • Cách thức đo lường lợi tức trên thị trường chứng khoán P1 – P0 + D1 Công thức tính lợi tức theo thời gian nắm giữ = P0 Trong đó: • P1 = Giá chứng khoán tại thời điểm T1 • P0 = Giá mua của chứng khoán tại thời điểm T0 • D1 = tiền lãi sẽ nhận được hoặc số tiền được trả ❖ Đối tượng tham gia thị trường chứng khoán Công ty niêm yết (listed company): là các công ty đại chúng có cổ phiếu đã phát hành và được phép giao dịch trên các thị trường chứng khoán Nhà đầu tư: Là những người tham gia giao dịch mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Công ty chứng khoán (CTCK): là các công ty được thành lập và hoạt động theo Luật chứng khoán cũng như các quy định khác của pháp luật để thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo giấy phép do Ủy ban chứng khoán Nhà nước cấp bao gồm: môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, tự doanh chứng khoán. 12 Sở Giao dịch chứng khoán: là hình thức tổ chức thị trường chứng khoán, là nơi diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán. Đây cũng là cơ quan duy trì trật tự giao dịch cũng như phục vụ giao dịch chứng khoán tập trung Ủy ban chứng khoán nhà nước (SSC): là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ tài chính quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán. Ủy ban chứng khoán nhà nước cũng quản lý các hoạt động thuộc lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật.
Lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán ra đời vào khoảng thế kỷ 15, khi ấy hình thức còn sơ khai và chưa có tên là thị trường. Ban đầu chỉ là các chợ phiên hay hội chợ là nơi các thương gia mua bán, trao đổi hàng hóa.