chương 1 Chương 1 đã nêu những vấn đề lý luận về quyền chọn, đi sâu vào phân tích các ưu, nhược điểm của các loại quyền chọn. Phân tích các vị thế của nhà đầu tư trong quyền chọn mua và quyền chọn bán. Đồng thời, chương này cũng phân tích khía cạnh bảo hiểm rủi ro và bảo vệ lợi nhuận khi kết hợp giữa giao dịch quyền chọn và sở hữu cổ phiếu. Những lý luận cơ bản đã được trình bày trong chương 1 là nền tảng để nghiên cứu về thực tế việc tổ chức sàn giao dịch quyền chọn ở một số thị trường trên thế giới cũng như sẽ được áp dụng và TTCK Việt Nam ở những chương tiếp theo.
26 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG ÁP DỤNG GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TẠI VIỆT NAM.1 Thực trạng về tổ chức sàn giao dịch quyền chọn chứng khoán ở một số nước trên thế giới: Sự hình thành và phát triển giao dịch quyền chọn trên TTCK là một nhu cầu tất yếu khách quan. Tuy nhiên, vì điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội ở mỗi quốc gia khác nhau nên sẽ ảnh hưởng đến việc tổ chức sàn giao dịch khác nhau. Hơn nữa, những điều kiện để có thể tổ chức sàn giao dịch khá phức tạp nên việc nghiên cứu thực trạng của các sàn giao dịch quyền chọn ở các nước đã phát triển là rất cần thiết cho kinh nghiệm xây dựng và phát triển giao dịch quyền chọn ở Việt Nam 2.1 Mô hình Mỹ 2.1 Thị trường chứng khoán Mỹ Thị trường chứng khoán Mỹ hình thành từ năm 1790, có lịch sử phát triển hơn 200 năm với khối lượng giao dịch được xếp vào hàng những thị trường lớn nhất thế giới như New York Stock Exchange (NYSE), American Stock Exchange (AMEX), Philadelphia Stock Exchange (PHLX), … Các tổ chức tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán tại Mỹ bao gồm các ngân hàng đầu tư và các công ty môi giới Các ngân hàng đầu tư: Chức năng hoạt động của các ngân hàng đầu tư rất quan trọng ở chỗ nó là trung gian giữa chủ thể phát hành và nhà đầu tư. Mục tiêu trong hoạt động của ngân hàng đầu tư là huy động vốn cho chủ thể phát hành trong điều kiện thuận lợi nhất.
Một đợt phát hành mới thông thường được bán qua một nhóm các ngân hàng đầu tư. Khi đóng vai trò nhà bảo lãnh cho các đợt phát hành, một ngân hàng đầu tư thường đảm đương rủi ro trong việc mua chứng khoán mới của công ty phát hành và bán ra cho công chúng. Những ngân hàng đầu tư nổi tiếng của Mỹ gồm có: Morgan Stanley, Merrill Lynch, First Boston Corporation và Goldman Sachs đã rất thành công trên TTCK Mỹ và ở các thị trường nước ngoài. 27 Các công ty môi giới của Mỹ: Ở Mỹ, các công ty môi giới có thể được thành lập dưới bất kỳ hình thức nào: Công ty cổ phần, Công ty TNHH hoặc Công ty hợp danh.
Các công ty môi giới và tự doanh chứng khoán tham gia mọi hoạt động trên TTCK như môi giới chứng khoán, cấp tín dụng cho các nhà đầu tư mua chứng khoán, cung cấp các dịch vụ liên quan đến bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục cho khách hàng và cung cấp các dịch vụ liên quan đến chứng khoán. Công ty môi giới lớn nhất tại Mỹ hiện nay là Merrill Lynch. Ngoài ra, còn có những công ty nổi tiếng khác như: Paine – Webber, Dean Witter Reynolds và Smith Barney. Ở Mỹ, Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước (Securities and Exchange Commission – SEC) là một cơ quan chính phủ quản lý việc phát hành, mua bán chứng khoán.
SEC là cơ quan quản lý chính của thị trường quyền chọn ở Mỹ. SEC là một tổ chức quản lý liên bang thiết lập vào năm 1934 để giám sát lĩnh vực kinh doanh chứng khoán bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và quyền chọn. Nhiệm vụ của SEC là bảo vệ nhà đầu tư, duy trì hoạt động của TTCK đảm bảo công bằng, kỷ luật và hiệu quả; và tạo điều kiện huy động vốn.2 Sàn giao dịch quyền chọn chứng khoán Chicago ( CBOE) Lịch sử hình thành và phát triển. CBOE là một trong những sàn giao dịch quyền chọn được thành lập sớm nhất và giá trị giao dịch chiếm tỷ trọng lớn trên thế giới, với lịch sử hình thành và phát triển được tóm tắt như sau: Năm 1973: - CBOE được thành lập và là sàn giao dịch quyền chọn đầu tiên ở Mỹ, các giao dịch quyền chọn được chuẩn hóa và niêm yết - Ngày giao dịch đầu tiên là 26/04 với 911 hợp đồng được thực hiện dựa trên 16 chứng khoán cơ sở.
Năm 1975 - Hệ thống báo giá tự động được giới thiệu. - Trung tâm thanh toán các giao dịch quyền chọn được thành lập. 28 - Mô hình Black – Scholes được áp dụng trong việc định giá quyền chọn. Năm 1977: - Bắt đầu giao dịch quyền chọn bán.
- SEC tạm ngưng việc mở rộng các giao dịch quyền chọn trong thời gian cơ quan này xem xét lại việc phát triển quá nhanh của TTCK. Năm 1980: - CBOE và Midwest Stock Exchange củng cố việc kinh doanh quyền chọn Năm 1981 - Tháng 4, CBOE động thổ xây dựng trụ sở sàn giao dịch mới với diện tích rộng 350.000 feet thay cho qui mô cũ là 45. Năm 1983: - CBOE tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng trong giao dịch quyền chọn bằng cách giao dịch quyền chọn trên chỉ số chứng khoán. - Ngày 11/3/1983, CBOE khởi điểm giao dịch là chỉ số CBOE 100, sau này được đổi tên là S&P 100 (OEX).
Đến ngày 1/7/1983 đưa vào giao dịch quyền chọn chỉ số S&P 50 (SPX) Năm 1984: - CBOE phát triển nhanh chóng vượt khỏi tầm của CBOT và tiến tới Sở giao dịch chứng khoán Chiacago (Chicago Stock Exchange), lần đầu tiên khối lượng giao dịch hàng năm qua sàn đạt 100 triệu hợp đồng. - CBOE khai trương hệ thống tự động thực hiện việc bán lẻ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện lệnh điện tử. Năm 1985 - CBOE thành lập Viện nghiên cứu quyền chọn, có nhiệm vụ dạy nhà đầu tư trên khắp thế giới về giao dịch quyền chọn. - Quyền chọn đối với các chứng khoán của sàn Nasdaq được niêm yết.
- NYSE bắt đầu niêm yết các giao dịch quyền chọn vốn. Năm 1987: 29 - Tháng 10, TTCK rơi vào khủng hoảng kéo theo sự sụp đổ của thị trường phái sinh. Năm 1989: - CBOE bắt đầu phát triển loại hình giao dịch quyền chọn lãi suất. Năm 1992 - Hội đồng giao dịch quyền chọn được thành lập với nhiệm vụ mở rộng việc đào tạo cho những nhà đầu tư - Các chỉ số trong khu vực được giao dịch tại CBOE Năm 1993 - CBOE giới thiệu quyền chọn FLEX – cho phép các nhà đầu tư tạo ra một số điều cơ bản trên hợp đồng.
- CBOE khai trương giao dịch chỉ số CBOE VIX – một chỉ số đo lường tính không ổn định của thị trường. Năm 1997: - CBOE đưa vào giao dịch chỉ số công nghiệp Down Jones. - CBOE mua lại bộ phận kinh doanh quyền chọn của NYSE Năm 1998: - CBOE và ngành công nghiệp quyền chọn kỷ niệm 15 năm ngày thành lập - Khối lượng hợp đồng giao dịch thường niên trên CBOE vượt mức 200 triệu hợp đồng Năm 2000: - SEC chấp thuận kế hoạch liên kết thị trường quyền chọn Mỹ của CBOE. - Số lượng các hợp đồng giao dịch lần đầu tiên vượt ngưỡng 1 triệu hợp đồng/ngày.
- Khối lượng giao dịch quyền chọn thường niên qua CBOE đạt 300 triệu hợp đồng Năm 2002: - CBOE tiếp tục mở rộng hệ thống giao dịch điện tử. 30 - CBOE bắt đầu phát triển hệ thống giao dịch kép, kết hợp việc mua bán thủ công trên sàn với giao dịch tự động hóa qua hệ thống điện tử. Năm 2003: - CBOE và các sàn giao dịch khác thành công trong việc kết nối liên thị trường. - CBOE kỷ niệm 20 năm ngày giao dịch quyền chọn chỉ số đầu tiên được thực hiện và 30 năm ngày giao dịch quyền chọn.
Năm 2005: - CBOE đạt khối lượng giao dịch mức kỷ lục 468.301 hợp đồng (tăng 34% so với năm 2004) với tổng giá trị ước tính lên đến 12. Năm 2006: - CBOE đạt khối lượng giao dịch mức kỷ lục 674.348 hợp đồng (tăng 40% so với năm 2005) Năm 2007: - CBOE đạt khối lượng giao dịch kỷ lục 944.924 hợp đồng (tăng 40% so với năm 2006), trong đó có sự gia tăng mạnh của các hợp đồng giao dịch các chỉ số. Năm 2008: - Kỷ niệm 35 năm ngày thành lập CBOE và ngành giao dịch quyền chọn - Tính đến ngày 31.2008, số lượng hợp đồng giao dịch trong năm đạt con số 1,2 tỷ hợp đồng và là năm bận rộn nhất trong lịch sử 35 năm giao dịch. Trung bình 4,7 triệu hợp đồng trong ngày và năm 2008 là năm thứ 5 liên tiếp CBOE lập kỷ lục về số lượng giao dịch.
Nguồn: http:// www.com Những người tham gia giao dịch quyền chọn Sàn giao dịch có một số thành viên giao dịch là cá nhân hoặc công ty có quyền đến sàn và giao dịch: - Nhà tạo lập thị trường (Market Makers): chịu trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư đối với quyền chọn. Khi một nhà đầu tư muốn mua (bán) quyền chọn và nếu không có một nhà đầu tư khác đáp ứng nhu cầu có, nhà tạo lập thị 31 trường phải thực hiện giao dịch đó. Nhà tạo lập thị trường cung cấp cho nhà đầu tư những tiện ích và thực hiện giao dịch ngay lập tức. Nhà tạo lập thị trường về bản chất là một doanh nghiệp.
Để tồn tại, nhà tạo lập thị trường phải tạo ra lợi nhuận bằng chênh lệch giữa giá mua và giá bán. Đối với nhà tạo lập thị trường, chênh lệch này là phần thưởng cho việc sẵn lòng thực hiện giao dịch. - Môi giới trên sàn ( Floor Broker): là một dạng kinh doanh khác trên sàn giao dịch. Nhà môi giới trên sàn thực hiện các giao dịch cho các thành viên tham gia thị trường.
Nhà môi giới trên sàn có thể hưởng phí hoa hồng hoặc được trả lương bởi công ty môi giới của họ. Nhà môi giới trên sàn thường không cần quan tâm đến giá tăng hay giá giảm, tuy nhiên, một nhà môi giới chuyên nghiệp sẽ mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng của họ. CBOE cũng có một số nhà tạo lập thị trường chính được chỉ định, đó là những người được phép vừa là nhà tạo lập thị trường vừa là nhà môi giới. - Nhân viên giữ sổ lệnh ( Order Book Official – OBO): Đây là dạng kinh doanh thứ 3 của CBOE.