Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản đóng vai trò trọng yếu trong việc duy trì tính an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng cũng như sự ổn định của nền kinh tế. Sự thiếu hụt thanh khoản có thể bào mòn lợi nhuận, làm suy yếu năng lực tài chính và đẩy các ngân hàng thương mại (NHTM) vào nguy cơ mất khả năng chi trả. Bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bắt nguồn từ sự đổ vỡ của thị trường bất động sản và sự gia tăng nợ xấu tại hệ thống ngân hàng Mỹ đã cho thấy mức độ rủi ro nghiêm trọng của vấn đề thanh khoản đối với sự tồn vong của các định chế tài chính.
Tại Việt Nam, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và bước vào giai đoạn phục hồi kinh tế, hệ thống NHTM đã có những bước phát triển cả về quy mô lẫn mạng lưới hoạt động. Tuy nhiên, đi cùng với sự mở rộng là các rủi ro tiềm ẩn về thanh khoản trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng. Nhằm ổn định hệ thống, Chính phủ đã ban hành Đề án số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 về cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn đó, đề tài khóa luận tập trung nghiên cứu mối quan hệ tác động giữa các yếu tố thanh khoản và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đánh giá và phân tích thực trạng thanh khoản cùng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2012–2016.
- Xây dựng mô hình kinh tế lượng nhằm lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố đo lường thanh khoản đến hiệu quả hoạt động (đại diện bởi tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu - ROE) của các ngân hàng.
- Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm hỗ trợ các NHTM nâng cao khả năng quản trị thanh khoản song song với việc cải thiện hiệu quả sinh lời.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Trạng thái thanh khoản và tác động của các chỉ tiêu thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 5 năm, từ năm 2012 đến năm 2016.
- Phạm vi không gian: Hệ thống các NHTM Việt Nam, trong đó tác giả tiến hành sàng lọc dữ liệu báo cáo tài chính đã kiểm toán của 20 NHTM đáp ứng tính liên tục và đầy đủ số liệu qua giai đoạn tái cơ cấu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm nghiên cứu
Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về thanh khoản ngân hàng dựa trên các tài liệu học thuật và định nghĩa chuẩn hóa:
- Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision), thanh khoản là khả năng của ngân hàng trong việc gia tăng tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không phải chịu tổn thất quá mức. Các tác giả như Fredrick Mwaura Mwangi (2014), Amengor (2010), Peter S. Rose (2011) và Trần Huy Hoàng (2011) đều đồng thuận rằng thanh khoản phản ánh năng lực tiếp cận các nguồn vốn khả dụng kịp thời với chi phí hợp lý để đáp ứng nhu cầu rút tiền, thanh toán và giải ngân tín dụng.
- Rủi ro thanh khoản phát sinh khi ngân hàng thiếu hụt nguồn tài chính để thanh toán các nghĩa vụ đến hạn hoặc phải huy động với chi phí quá cao (Vento, 2009; Drehmann & Nikolaou, 2009; Trần Huy Hoàng, 2011). Các nguyên nhân chính bao gồm sự mất cân đối kỳ hạn giữa huy động ngắn hạn và cho vay dài hạn, tính nhạy cảm của dòng tiền gửi đối với biến động lãi suất, cùng với quy mô ngân hàng và sự gia tăng nhu cầu rút tiền đột ngột (Diamond & Rajan, 2005; Ali, 2015).
- Hiệu quả hoạt động ngân hàng được đo lường thông qua các chỉ số tài chính: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NOM), Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên (NIM) và Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (Trương Quang Thông, 2011; Peter S. Rose, 1998; Nguyễn Việt Hùng, 2008). Trong mô hình hồi quy của khóa luận, chỉ tiêu ROE được chọn làm biến phụ thuộc chính vì phản ánh trực tiếp hiệu quả sử dụng một đồng vốn của chủ sở hữu.
- Các nghiên cứu thực nghiệm tiền đề được tác giả kế thừa gồm có: Limon Moinur Rasul (2012) nghiên cứu trên các ngân hàng Hồi giáo tại Bangladesh; Shahchera M. (2012) tại Iran; E. Graham (2010) tại Canada; Vodova (2011) tại Cộng hòa Séc; cùng các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Thị Thanh Huyền, Võ Thị Thanh Tùng và Nguyễn Thị Tú Mai.
Phương pháp nghiên cứu và mô hình kinh tế lượng
Tác giả kết hợp phương pháp định tính (tổng hợp, phân tích, thống kê mô tả, so sánh số liệu tài chính) và phương pháp định lượng (xây dựng mô hình hồi quy đa biến trên dữ liệu bảng) thông qua phần mềm EViews và SPSS.
Dựa trên khung mô hình của Limon Moinur Rasul (2012), hàm hồi quy mẫu có dạng:
$$\text{ROE} = \alpha_0 + \alpha_1 \text{INVSTA} + \alpha_2 \text{INVSDEP} + \alpha_3 \text{CDTA} + \alpha_4 \text{CDDEP} + \varepsilon$$
| Ký hiệu biến |
Tên biến và công thức xác định |
Vai trò trong mô hình |
Kỳ vọng tương quan |
| ROE |
$\text{Lợi nhuận sau thuế} / \text{Vốn chủ sở hữu}$ |
Biến phụ thuộc |
Không áp dụng |
| CDTA |
$(\text{Tiền mặt} + \text{Tiền gửi NHNN} + \text{Tiền gửi TCTD khác}) / \text{Tổng tài sản có}$ |
Biến độc lập (Chỉ số trạng thái tiền mặt) |
$+$ |
| CDDEP |
$(\text{Tiền mặt} + \text{Tiền gửi NHNN} + \text{Tiền gửi TCTD khác}) / \text{Tổng tiền gửi khách hàng}$ |
Biến độc lập |
$+/-$ |
| INVSTA |
$(\text{Dư nợ tín dụng} + \text{Chứng khoán kinh doanh} + \text{Chứng khoán sẵn sàng để bán}) / \text{Tổng tài sản có}$ |
Biến độc lập |
$-$ |
| INVSDEP |
$(\text{Dư nợ tín dụng} + \text{Chứng khoán kinh doanh} + \text{Chứng khoán sẵn sàng để bán}) / \text{Tổng tiền gửi khách hàng}$ |
Biến độc lập |
$+$ |
Quy trình kiểm định mô hình gồm:
- Kiểm định độ phù hợp tổng thể của mô hình thông qua hệ số xác định $R^2$ và thống kê F.
- Kiểm định ý nghĩa thống kê của từng biến độc lập dựa trên giá trị xác suất Prob(F-Statistic) / p-value với mức ý nghĩa 5%.
- Kiểm định đa cộng tuyến bằng hệ số nhân tử phóng đại phương sai (VIF) và quy tắc ngón tay cái thông qua các phương trình hồi quy phụ.
- Kiểm định hiện tượng tự tương quan chuỗi bằng kiểm định Breusch-Godfrey (LM test).
- Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi theo kiểm định White (1980).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 1 làm rõ tính cấp thiết của việc nghiên cứu thanh khoản ngân hàng sau các biến động tài chính trong nước và quốc tế. Tác giả trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước; xác định mục tiêu nghiên cứu; giới hạn đối tượng nghiên cứu là thanh khoản và hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2012–2016; giới thiệu phương pháp thống kê và công cụ hồi quy EViews, SPSS; đồng thời phác thảo bố cục toàn bài khóa luận gồm 5 chương.
Chương 2: Lý luận về thanh khoản của ngân hàng thương mại
Chương này cung cấp hệ thống lý thuyết về bản chất thanh khoản, cung - cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng ($NPL = \text{Tổng cung thanh khoản} - \text{Tổng cầu thanh khoản}$). Tác giả phân tích các yếu tố tác động đến thanh khoản thành hai nhóm:
- Nhóm nhân tố vĩ mô: Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), sự phát triển của các thị trường liên quan (bất động sản, chứng khoán, vàng) và mức độ cạnh tranh trong ngành.
- Nhóm nhân tố vi mô: Lãi suất huy động, lãi suất cho vay, lãi suất liên ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu, mức sinh lời kỳ vọng và cơ cấu vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản.
Chương 2 cũng phân tích cấu phần tài sản thanh khoản (tiền mặt, tiền gửi NHNN, tiền gửi TCTD khác, cho vay khách hàng, chứng khoán kinh doanh và chứng khoán sẵn sàng để bán) và tổng hợp kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm tiền đề (Shahchera M., 2012; E. Graham, 2010; Limon Moinur Rasul, 2012).
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả giải thích lý do lựa chọn mẫu 20 NHTM do yêu cầu loại trừ các ngân hàng thiếu số liệu hoặc thực hiện sáp nhập trong giai đoạn tái cơ cấu. Tác giả định nghĩa công thức cho từng biến số, thiết lập 4 giả thuyết nghiên cứu (H1 đến H4), xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính với biến phụ thuộc ROE và mô tả các bước kiểm định kỹ thuật kinh tế lượng gồm kiểm định độ phù hợp $R^2$, kiểm định F, kiểm định VIF, kiểm định Breusch-Godfrey và kiểm định White.
Chương 4: Thực trạng tác động của thanh khoản đối với hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam
Chương 4 phân tích số liệu thực tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2012–2016:
- Tình hình chung: Triển khai Đề án 254 về tái cấu trúc TCTD, xử lý 3 ngân hàng mua bắt buộc 0 đồng (Ngân hàng Xây dựng - CB, Ngân hàng Đại Dương - OceanBank, Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu - GPBank). Tỷ lệ an toàn vốn bình quân (CAR) toàn hệ thống có xu hướng giảm: 13,75% (năm 2012), 13,25% (năm 2013) và 12,75% (năm 2014) do tổng tài sản tăng nhanh hơn vốn tự có. Tính đến 30/11/2016, tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo giảm xuống còn 2,46%. Đến tháng 8/2015, tỷ lệ an toàn vốn của khối ngân hàng liên doanh và nước ngoài đạt 34,45%, trong khi NHTM Nhà nước là 9,29% và NHTM cổ phần là 13,18%.
- Quy mô thanh khoản và tài sản (giai đoạn 2012–2016):
- Tổng tiền mặt, tiền gửi NHNN và tiền gửi TCTD khác tăng từ 424.744.224 triệu đồng (năm 2012) lên 574.560.285 triệu đồng (năm 2016), trong đó tiền gửi tại các TCTD khác chiếm tỷ trọng chi phối (đạt 73,29% năm 2013 và 67,00% năm 2016).
- Tổng dư nợ tín dụng, chứng khoán kinh doanh và chứng khoán sẵn sàng để bán tăng từ 2.207.035.077 triệu đồng lên 4.380.086.340 triệu đồng; dư nợ cho vay chiếm tỷ trọng áp đảo trên 81%.
- Tiền gửi khách hàng tăng từ 1.824.548.183 triệu đồng lên 4.037.772.146 triệu đồng.
- Tổng tài sản của các NHTM tăng trưởng đều qua các năm: 12,33% (năm 2013), 17,71% (năm 2014), 18,79% (năm 2015) và 19,38% (năm 2016). Nhóm NHTM Nhà nước chiếm quy mô tài sản lớn nhất, dẫn đầu là BIDV (1.006.404.150 triệu đồng năm 2016), VietinBank (948.699.023 triệu đồng) và Vietcombank (787.906.892 triệu đồng).
- Diễn biến các tỷ số và tương quan thực nghiệm:
- Tỷ lệ CDTA giảm liên tục từ 14,83% (năm 2012) xuống 10,54% (năm 2016), biến động cùng chiều với ROE (giảm từ 11,38% xuống 9,49%).
- Tỷ lệ CDDEP giảm từ 24,00% (năm 2012) xuống 14,45% (năm 2016), thể hiện tương quan thuận với ROE.
- Tỷ lệ INVSTA duy trì ở mức cao (từ 74,23% đến 75,18%), thể hiện tương quan nghịch với ROE.
- Tỷ lệ INVSDEP giảm từ 120,79% (năm 2012) xuống 102,74% (năm 2016), vận động cùng chiều với ROE.
Chương 5: Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động trong mối quan hệ với thanh khoản của các NHTM Việt Nam
Chương 5 nêu định hướng phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2016–2020: xử lý dứt điểm các tổ chức tín dụng yếu kém, chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn quốc tế (Basel II, IFRS) và cải thiện năng lực cạnh tranh trước sức ép hội nhập (hiệp định thương mại, sự gia tăng hiện diện của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Trên cơ sở đó, chương đưa ra các giải pháp nhằm cân đối giữa khả năng thanh khoản và hiệu quả sinh lời cho các NHTM.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa diễn biến các chỉ số tài chính, thanh khoản và hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2012–2016:
| Chỉ tiêu phân tích |
2012 |
2013 |
2014 |
2015 |
2016 |
| Tiền mặt, tiền gửi NHNN, tiền gửi TCTD (triệu đồng) |
424.744.224 |
421.524.359 |
469.437.309 |
500.708.565 |
574.560.285 |
| Dư nợ tín dụng, CK kinh doanh, CK để bán (triệu đồng) |
2.207.035.077 |
2.482.210.488 |
3.062.825.684 |
3.598.991.496 |
4.380.086.340 |
| Tiền gửi khách hàng (triệu đồng) |
1.824.548.183 |
2.239.493.650 |
2.775.403.506 |
3.346.728.938 |
4.037.772.146 |
| Tỷ lệ CDTA (% Tổng tài sản) |
14,83% |
12,92% |
12,35% |
10,95% |
10,54% |
| Tỷ lệ CDDEP (% Tiền gửi khách hàng) |
24,00% |
19,13% |
17,37% |
15,17% |
14,45% |
| Tỷ lệ INVSTA (% Tổng tài sản) |
74,67% |
74,45% |
75,18% |
74,23% |
74,98% |
| Tỷ lệ INVSDEP (% Tiền gửi khách hàng) |
120,79% |
110,21% |
105,72% |
102,82% |
102,74% |
| Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) |
11,38% |
9,42% |
9,15% |
9,23% |
9,49% |
Từ kết quả phân tích thống kê và mô hình hồi quy, khóa luận rút ra các kết luận:
- Chỉ số trạng thái tiền mặt trên tổng tài sản (CDTA) và tỷ lệ tiền dự trữ trên tiền gửi khách hàng (CDDEP) có tác động cùng chiều đối với ROE. Việc duy trì dự trữ thanh khoản tiền mặt và tiền gửi hợp lý giúp đảm bảo an toàn chi trả và củng cố hiệu quả kinh doanh.
- Tỷ lệ dư nợ tín dụng và chứng khoán trên tổng tài sản (INVSTA) có xu hướng tác động ngược chiều với ROE trong bối cảnh nợ xấu gia tăng và chi phí trích lập dự phòng rủi ro lớn.
- Tỷ lệ dư nợ tín dụng và chứng khoán trên tiền gửi khách hàng (INVSDEP) giảm dần qua các năm và biến động cùng chiều với ROE.
Đóng góp của đề tài
- Về mặt học thuật: Áp dụng khung mô hình kinh tế lượng từ nghiên cứu quốc tế (Limon Moinur Rasul, 2012) vào bối cảnh hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn tái cơ cấu 2012–2016.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp hệ thống dữ liệu chi tiết về cơ cấu tài sản, nguồn vốn và các chỉ số đo lường thanh khoản của 20 NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất căn cứ thực nghiệm phục vụ công tác quản trị rủi ro thanh khoản và cân đối nguồn vốn tại các ngân hàng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phản ánh một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:
- Hạn chế về mẫu dữ liệu: Do nhiều ngân hàng nhỏ phải sáp nhập hoặc thiếu số liệu báo cáo tài chính kiểm toán thống nhất trong giai đoạn 2011–2016, tác giả phải thu hẹp quy mô mẫu về 20 NHTM.
- Hạn chế về thời gian: Chuỗi dữ liệu phân tích dừng lại ở giai đoạn 2012–2016, chưa phản ánh được các biến động của giai đoạn tái cơ cấu sau năm 2016.
- Hạn chế về biến số: Nghiên cứu tập trung vào ROE làm biến phụ thuộc duy nhất cho hiệu quả hoạt động kinh doanh mà chưa lượng hóa song song các mô hình cho ROA, NIM hoặc NOM trong cùng cấu trúc hồi quy.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu sang toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng và kéo dài chuỗi dữ liệu thời gian sang các năm tiếp theo.
- Ứng dụng các phương pháp hồi quy nâng cao cho dữ liệu bảng (như mô hình tác động cố định FEM, tác động ngẫu nhiên REM, hoặc phương pháp GMM) kết hợp bổ sung các biến kiểm soát vĩ mô (lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP, lãi suất tái cấp vốn).
Giá trị tham khảo
Đề tài khóa luận là tài liệu tham khảo cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng đang thực hiện các đề tài về quản trị thanh khoản, quản trị rủi ro ngân hàng và hiệu quả tài chính của các định chế tín dụng.
- Người nghiên cứu kinh tế lượng ứng dụng: Tài liệu cung cấp cách tiếp cận xây dựng mô hình hồi quy đa biến với dữ liệu bảng thu thập từ báo cáo tài chính doanh nghiệp và quy trình kiểm định khuyết tật mô hình (VIF, White, Breusch-Godfrey).
- Cán bộ quản lý rủi ro và phân tích tài chính tại các ngân hàng thương mại cần số liệu so sánh lịch sử về biến động các tỷ số thanh khoản (CDTA, CDDEP, INVSTA, INVSDEP) của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2012–2016.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả lựa chọn ROE làm biến phụ thuộc duy nhất trong mô hình hồi quy thay vì ROA, NIM hay NOM?
Theo lập luận của tác giả tại Chương 3, ROE (tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu) là thước đo phản ánh mức sinh lời trên một đồng vốn của cổ đông và là xuất phát điểm quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả tài chính ngân hàng. Trong khi ROA, NIM hay NOM chỉ phản ánh từng khía cạnh riêng lẻ (như thu nhập lãi thuần hay tỷ suất sinh lời tài sản), ROE thể hiện bức tranh tổng thể về hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu gắn với các ràng buộc pháp lý về tăng quy mô tài sản.
2. Biến CDTA và INVSTA được tính toán từ các khoản mục nào trên Bảng cân đối kế toán?
- Biến CDTA được tính bằng: $(\text{Tiền mặt} + \text{Tiền gửi NHNN} + \text{Tiền gửi tại các TCTD khác}) / \text{Tổng tài sản có}$.
- Biến INVSTA được tính bằng: $(\text{Dư nợ tín dụng} + \text{Chứng khoán kinh doanh} + \text{Chứng khoán sẵn sàng để bán}) / \text{Tổng tài sản có}$.
3. Hệ số an toàn vốn (CAR) của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu có đặc điểm gì?
Theo số liệu được trích dẫn trong văn bản, hệ số CAR bình quân của các NHTM Việt Nam đạt 10,98% (năm 2010), tăng lên 13,75% (năm 2012), sau đó giảm xuống 13,25% (năm 2013) và 12,75% (năm 2014). Nguyên nhân là do vốn điều lệ tăng chậm hơn tốc độ mở rộng tổng tài sản và NHNN siết chặt quy định tính các khoản tín dụng ủy thác, bảo lãnh, trái phiếu doanh nghiệp vào tổng dư nợ rủi ro. Tính đến tháng 8/2015, CAR của khối NHTM Nhà nước là 9,29%, khối NHTM cổ phần là 13,18%, thấp hơn nhiều so với khối ngân hàng liên doanh và nước ngoài (34,45%).
4. Tương quan giữa chỉ số trạng thái tiền mặt (CDTA) và tỷ suất sinh lời ROE giai đoạn 2012–2016 thể hiện như thế nào?
Số liệu thực nghiệm cho thấy CDTA và ROE có mối tương quan thuận. Trong giai đoạn 2012–2016, tỷ lệ CDTA giảm liên tục từ 14,83% (năm 2012) xuống 12,92% (năm 2013), 12,35% (năm 2014), 10,95% (năm 2015) và 10,54% (năm 2016). Cùng chiều với xu hướng đó, chỉ số ROE cũng giảm từ 11,38% (năm 2012) xuống 9,42% (năm 2013), 9,15% (năm 2014), sau đó dao động nhẹ quanh mức 9,23% (năm 2015) và 9,49% (năm 2016).
5. Tác giả đã sử dụng những phép kiểm định kinh tế lượng nào để đảm bảo tính tin cậy của mô hình?
Tác giả đã xác lập các quy trình kiểm định gồm: kiểm định độ phù hợp $R^2$ và kiểm định F; kiểm định biến cần thiết qua mức ý nghĩa Prob(F-statistic) < 0,05; kiểm định đa cộng tuyến qua hệ số VIF và quy tắc ngón tay cái từ các mô hình hồi quy phụ; kiểm định tự tương quan chuỗi Breusch-Godfrey (Lagrange Multiplier); và kiểm định phương sai sai số thay đổi theo White (1980).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Kiều Oanh đã phân tích thực trạng thanh khoản và lượng hóa tác động của các chỉ tiêu thanh khoản đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2012–2016. Dựa trên khung mô hình kinh tế lượng kế thừa từ các nghiên cứu quốc tế, đề tài đã chỉ ra mối tương quan giữa trạng thái tiền mặt, cơ cấu đầu tư chứng khoán - tín dụng và hiệu quả sinh lời của ngân hàng trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng theo Đề án 254. Các kết quả thống kê và hàm ý giải pháp trong khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho việc nghiên cứu học thuật và công tác quản trị rủi ro thanh khoản ngân hàng.