chương 1 đã thể hiện được những đóng góp của nghiên cứu cũng như trình bày khát quát được 5 chương trong bài khóa luận này 21 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Tại chương 2 tác giả sẽ tiến hành trình bày các khung cơ sở lý thuyết liên quan đến TDTM và thanh khoản cổ phiếu. Bên cạnh đó trong chương này tác giả cũng sẽ lược khảo các nghiên cứu liên quan trong lĩnh vực này, chọn lọc và phân tích cách vấn đề còn tồn đọng của nghiên cứu trước để hoạch định hướng nghiên cứu cho khóa luận 2. TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI 2.
Khái niệm về tín dụng thương mại Lý thuyết về tín dụng thương mại được khởi xướng lần đầu tiên bởi Le Goff vào năm 1957. Ông cho rằng hình thức tín dụng thương mại được sử dụng từ thời Trung Cổ, nó được hình thành khi người bán không đòi hỏi người mua phải thanh toán ngay khi nhận sản phẩm. Kể từ đó đến nay, các chủ đề liên quan đến tín dụng thương mại luôn được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới như công trình của Nadiri (1969), Vaidya (2011) và Martínez-Sola, García-Teruel và Martínez- Solano (2013). Paul và Boden (2014) nhận định rằng TDTM là một hình thức tín dụng trong đó doanh nghiệp cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng mà không yêu cầu thanh toán ngay lập tức.
Thay vào đó, người mua sẽ có một khoảng thời gian nhất định để thanh toán theo thỏa thuận giữa hai bên. TDTM thường không được quy định bởi các cơ quan quản lý và được điều chỉnh bởi các yếu tố thị trường. TDTM theo giải thích của Martínez-Sola, García-Teruel và Martínez-Solano (2013) là một thỏa thuận giữa người bán và người mua cho phép trao đổi hàng hóa với các điều khoản thanh toán trả chậm. Khi xuất hiện ở phía tài sản của bảng cân đối kế toán, nó được gọi là các khoản phải thu (cung cấp TDTM).
Ngoài ra, khi TDTM xuất hiện ở phía nợ phải trả, nó được gọi là các khoản phải trả (cầu TDTM). 22 Wilson và Summers (2002) cho rằng TDTM là một công cụ tiếp thị quan trọng. Nó có thể được sử dụng để xây dựng mối quan hệ kinh doanh trong một thị trường mới và những người mới tham gia có thể đạt được thành công dễ dàng hơn so với việc xây dựng danh tiếng của họ sau nhiều năm làm việc chăm chỉ và tiếp thị sản phẩm của họ. Có nhiều định nghĩa và quan điểm về TDTM nhưng nó thường được hiểu là một loại tín dụng mà trong đó một doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp khác mua hàng hóa hoặc dịch vụ và thanh toán sau trong một khoảng thời gian nhất định, thay vì phải trả tiền ngay lập tức khi nhận hàng hoặc dịch vụ.
Bằng cách bán chịu hàng hoá hay thông qua lưu thông thương phiếu, TDTM giúp làm thông suốt và thúc đẩy lưu thông dòng tiền. Đây là một hình thức cho vay phổ biến trong hoạt động kinh doanh, giúp các doanh nghiệp linh hoạt trong quản lý dòng tiền và duy trì hoạt động liên tục. TDTM ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp. Một chính sách tín dụng quá lỏng lẻo có thể làm giảm dòng tiền, trong khi một chính sách quá chặt chẽ có thể làm mất cơ hội kinh doanh (Chee, Janet và Richard 1999).
Số ngày mà tín dụng được cung cấp được xác định bởi công ty cho phép tín dụng và được thỏa thuận bởi cả công ty cho phép tín dụng và công ty nhận tín dụng. TDTM cũng có thể là một cách thiết yếu để các doanh nghiệp tài trợ cho tăng trưởng ngắn hạn. Bởi vì TDTM là một hình thức mua hàng trả chậm, nó thường có thể được sử dụng để khuyến khích gia tăng doanh số bán hàng. TDTM đem lại nhiều lợi thế so với tín dụng ngân hàng, được thể hiện ở một số điểm như: (i) Giảm bất cân xứng thông tin giữa người mua và người bán với vai trò đảm bảo chất lượng sản phẩm (Smith 1987).
23 Tuy nhiên để thực hiện hóa những lợi thế này, các doanh nghiệp phải quản trị tốt các chi phí tài trợ và rủi ro đối tác. Danielson và Scott (2004) chỉ ra rằng vai trò của TDTM trong cấu trúc vốn của một công ty phụ thuộc vào khả năng trả nợ của nó. Nếu công ty có thể trả nợ đúng hạn, TDTM là nguồn thay thế cho tín dụng ngân hàng. Bên cạnh đó khi công ty gặp khó khăn về dòng tiền và không thể tiếp cận tín dụng ngân hàng bổ sung, TDTM trở thành nguồn thay thế cho tín dụng ngân hàng, mặc dù có chi phí cao.
Đo lường tín dụng thương mại Wilson và Summers (2002) nêu bản chất hai chiều của TDTM, chỉ ra rằng các công ty sử dụng TDTM với tư cách là người nhận cũng như nhà cung cấp. Điều này phù hợp với lý thuyết của Petersen và Rajan (1997). Do đó, TDTM cần được đo lường bằng cả khoản phải thu (đại diện cho nguồn cung TDTM) và khoản phải trả (đại diện cho nhu cầu sử dụng TDTM). Thực tế, phương pháp đo lường TDTM này cũng được ứng dụng trong nghiên cứu của Pike và cộng sự (2005), Niskanen và Niskanen (2006) và Shang (2020).Khoản phải thu khách hàng (customers’ collection days - CCD) được tính bằng công thức như sau: Bình quân phải thu khách hàng CCD= x360 Doanh thu thuần (2.1) Những ngày cao nhất thể hiện rằng công ty đang kéo dài ngày thu tiền của khách hàng, tăng nguồn cung cấp TDTM.
Khoản phải trả người bán (suppliers’ payment days - SPD) được tính bằng công thức như sau (Shang 2020) : Bình quân phải trả người bán SPD= x360 Doanh thu thuần (2.2) Số ngày thấp nhất thể hiện rằng công ty có khả năng hoàn trả nhanh hơn cho các nhà cung cấp đang hoạt động, tượng trưng cho sự nhu cầu sử dụng TDTM. Ngoài ra theo Petersen và Rajan (1997) TDTM còn được đo lường dựa trên tổng tài sản công 24 ty. Cách đo lường này xác định phần tài sản của công ty được tài trợ thông qua tín dụng thương mại, công thức được tính như sau: Các khoản phải trả Sử dụng TDTM = Tổng tài sản (2.3) Cũng trong nghiên cứu của mình để đo lường xem xem doanh nghiệp là người cung cấp hay người nhận tín dụng thương mại, Petersen và Rajan (1997) cũng đã sử dụng cách đo lường Net Trade Credit (NTC) để phân tích sự khác biệt giữa các doanh nghiệp trong việc sử dụng và cung cấp tín dụng thương mại. NTC được tính bằng hiệu của các khoản phải trả nhà cung cấp và các khoản phải thu khách hàng.
Những cách đo lường này giúp đánh giá rõ ràng vai trò và mức độ sử dụng tín dụng thương mại của doanh nghiệp, từ đó phân tích sâu hơn về chiến lược tài chính của các công ty. Lợi ích và rủi ro của tín dụng thương mại TDTM mang lại nhiều lợi ích cho cả bên bán và bên mua, đặc biệt trong việc quản lý dòng tiền, phát triển mối quan hệ kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh. Hình thức cho vay này cho phép các doanh nghiệp mua hàng mà không cần thanh toán ngay lập tức, giúp họ quản lý dòng tiền hiệu quả hơn. Điều này đặc biệt hữu ích trong việc tránh áp lực tài chính ngắn hạn và duy trì thanh khoản tốt.
Theo nghiên cứu của Petersen và Rajan (1997) đã thể hiện rằng TDTM là một công cụ quan trọng giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, duy trì dòng tiền ổn định và tránh được áp lực từ việc thiếu vốn lưu động. Đồng thời cũng trong nghiên cứu này họ chỉ ra rằng TDTM cho phép người mua dồn nhiều đơn hàng để thanh toán một lần theo định kỳ và giảm chi phí thanh toán. Về phía người bán, thông qua TDTM sẽ giảm chi phí tồn kho và gia tăng doanh thu mà không cần phải giảm giá bán. Theo Schwartz (1974), việc sử dụng TDTM có thể giúp các doanh nghiệp giảm chi phí giao dịch và cải thiện hiệu quả hoạt động.
Nó giúp giảm bớt nhu cầu về các giao dịch thanh toán lặp đi lặp lại, từ đó giảm chi phí giao dịch và các chi phí liên quan như phí ngân 25 hàng và chi phí hành chính. Trong nghiên cứu này tác giả cho rằng nhà cung cấp sẽ có lợi thế về đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng, cũng như trong việc giám sát trả nợ. Điều này dẫn đến việc nhà cung cấp có lợi thế về chi phí cấp tín dụng cho khách hàng so với các định chế tài chính, bao gồm lợi thế về thu thập thông tin, lợi thế điều khiển người mua, lợi thế về thu hồi giá trị từ hàng hóa đã cung cấp. Cung cấp TDTM cũng có thể giúp tạo dựng và duy trì mối quan hệ lâu dài giữa người bán và người mua.
Việc cung cấp điều khoản vay linh hoạt có thể tạo niềm tin và sự gắn kết giữa các doanh nghiệp. Như Ferris (1981) đã chỉ ra rằng TDTM đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố các mối quan hệ kinh doanh, đặc biệt trong các ngành công nghiệp có tính cạnh tranh cao. Bên cạnh đó, người bán có thể sử dụng TDTM như một công cụ tiếp thị để tăng doanh số bán hàng. Nghiên cứu của Smith (1987) chỉ ra rằng các công ty thường sử dụng TDTM như một phương tiện để tăng cường sức cạnh tranh và mở rộng thị phần.
Việc cung cấp tín dụng giúp người mua cảm thấy thoải mái hơn khi đặt hàng số lượng lớn, từ đó có thể dẫn đến tăng trưởng doanh thu cho người bán. Mặc dù là một công cụ tài chính phổ biến và hữu ích trong việc duy trì dòng tiền cho các doanh nghiệp tuy nhiên TDTM cũng mang lại nhiều rủi ro. Đối với bên cung cấp TDTM, một trong những rủi ro lớn nhất là khả năng không thu hồi được nợ từ các khách hàng. Điều này có thể dẫn đến mất mát tài chính cho doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Petersen và Rajan (1997) chỉ ra rằng các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp mới thành lập dễ gặp phải rủi ro này hơn do họ có ít khả năng đánh giá tín dụng và thu hồi nợ. Khi có tranh chấp về điều khoản thanh toán hoặc khi khách hàng không thể trả nợ đúng hạn, điều này có thể làm tổn hại mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng. Nghiên cứu của Wilner (2000) cho thấy rằng các mối quan hệ kinh doanh có thể bị ảnh hưởng tiêu cực khi các điều kiện tín dụng không được thực hiện đúng như thỏa thuận. Việc việc gia tăng thời gian thanh toán cho khách hàng có thể làm tăng chi phí quản lý, bao gồm chi phí theo dõi và thu hồi nợ.