Chương 1 nêu lý do tác giả chọn đề tài nghiên cứu của luận văn là: “Tác động của tăng trưởng tín dụng đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Các vấn đề như mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu cùng phạm vi thực hiện đề tài và phương pháp nghiên cứu cũng được khái quát trong chương này. Chương này cũng đề cập đến đóng góp thực tiễn và kết cấu của luận văn 8 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.
Lý thuyết về tăng trưởng tín dụng 2. Tín dụng của ngân hàng thương mại NHTM được xem là định chế tài chính trung gian, kết nối cung và cầu vốn trong nền kinh tế. Theo đó NHTM huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và bằng cái nghiệp vụ tín dụng của NHTM đưa đó đến các chủ thể có nhu cầu sử dụng. Hiện nay, trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng của NHTM, song về bản chất thì chúng là như nhau.
Kinh tế học hiện đại cho rằng “Tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản, cam kết hoàn trả vô điều kiện theo thời hạn đã thỏa thuận. Theo Bùi Diệu Anh và ctg (2011), Đứng trên góc độ là NHTM thì “Tín dụng là một giao dịch giữa hai chủ thể trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ TCTD) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Nguyễn Minh Kiều (2007), cho rằng: “Cấp tín dụng của NHTM dành cho KH là một trong những nghiệp vụ sử dụng vốn, theo đó NHTM đóng vai trò là người cấp tín dụng và khách hàng là người nhận khoản tín dụng để sử dụng cho các mục đích khác nhau. Cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản và chủ yếu trong các nghiệp vụ tài sản có sinh lời của NHTM”. Theo Luật các TCTD (2010) thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
9 Như vậy có thể hiểu tín dụng của NHTM dành cho khách hàng là một trong những nghiệp vụ sử dụng vốn, theo đó NHTM đóng vai trò là người cấp tín dụng và khách hàng là người nhận khoản tín dụng để sử dụng cho các mục đích khác nhau, dưới hình thức bằng tiền hoặc tài sản trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận, với cam kết là khách hàng phải hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn. Và tín dụng của NHTM là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội, đây là mối quan hệ dịch chuyển vốn từ nơi tạm thừa sang nơi tạm thiếu một cách gián tiếp thông qua trung gian là ngân hàng. Nó cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định và là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn với phương châm bình đẳng và đôi bên cùng có lợi. Đặc điểm tín dụng của NHTM Đặc điểm nổi bật nhất của nghiệp vụ tín dụng NHTM đó là tính hoàn trả và được xây dựng trên cơ sở lòng tin, cụ thể: NHTM chỉ cấp tín dụng cho khách hàng khi có lòng tin rằng khách hàng sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích với phương án vay vốn đã được thẩm định một cách hiệu quả để đảm bảo khả năng thanh toán nợ vay đúng hạn.
Bên cạnh đó, người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng kiếm tiền trong tương lai để hoàn trả nợ vay. Khi chuyển giao vốn tín dụng, ngân hàng chỉ chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng chứ không chuyển giao quyền sở hữu vốn. Khách hàng ngoài việc hoàn trả vốn đúng hạn còn phải kèm theo lãi, tiền lãi phải trả chính là chi phí cho việc sử dụng sản phẩm tín dụng của NHTM. Tín dụng NHTM là nghiệp vụ quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mức rủi ro đi kèm của nghiệp vụ này cũng cao hơn các nghiệp vụ khác.
Do đó hoạt động tín dụng của NHTM của các nước trên thế giới đều phải có khung pháp lý và được kiểm soát chặt chẽ. Các sản phẩm tín dụng của NHTM ngày càng đa dạng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thâm nhập được vào mọi nhu cầu, lĩnh vực, ngành nghề. Các NHTM 1 phải tuân thủ quy trình tín dụng đồng thời mọi tác nghiệp của hoạt động tín dụng đều phải được kiểm tra, giám sát chặt chẽ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng nợ xấu. Phân loại tín dụng của NHTM Theo Luật các TCTD (2010), thì có các hình thức cấp tín dụng như sau: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. Phát hành thẻ tín dụng (Credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ.
(Thông tư số 19/2016/TT-NHNN, 2016) Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Vai trò tín dụng của NHTM Đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất nền kinh tế hàng hóa cũng được ở mỗi quốc gia trên thế giới cũng được thúc đẩy, để cho quá trình này ngày càng được hoàn thiện và mở rộng phải nói đến vai trò to lớn của tín dụng ngân hàng. Cụ thể: 1 − Một là, tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế là người trung gian điều hòa quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng đã thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa sang nơi thiếu. Từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.
− Hai là, tín dụng ngân hàng thúc đẩy nhanh quá trình tập trung và tích tụ vốn, giúp nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất được thực hiện bình thường liên tục và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, mở rộng đầu tư, phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất. − Ba là, tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế độ hạch toán kinh tế. Vì bản chất của tín dụng có tính hoàn trả cả gốc và lãi, điều này buộc các chủ thể vay vốn phải luôn quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay của ngân hàng cũng góp phần giúp các doanh nghiệp nâng cao ý thức chấp hành nghiêm túc nguyên tắc hạch toán kinh tế, lấy thu bù chi, có lợi nhuận.
− Bốn là, tín dụng ngân hàng thông qua các hoạt động tài trợ ngoại thương đã tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tăng trưởng tín dụng ngân hàng 2. Khái niệm Schularick và Taylor (2009), cho rằng tăng trưởng tín dụng là tiền đề để tiên đoán một cuộc khủng hoảng tài chính có thể xảy ra trong tương lai, mối quan hệ giữa tiền, tín dụng, chính sách tiền tệ đã được nghiên cứu và đưa tới kết luận con số tăng trưởng tín dụng chứa thông tin có giá trị về khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai, tất nhiên nó không phải là một yếu tố dự báo hoàn hảo nhưng nó có thể lý giải một số nguyên nhân cơ bản của chính sách tiền tệ, của các yếu tố kinh tế vĩ mô ở mỗi quốc gia. Trong mỗi giai đoạn kinh tế, nhà hoạch định chính sách sẽ có những chính sách tiền tệ linh hoạt, theo đó các nhà quản trị ngân hàng cũng có các định hướng phù 1 hợp để hướng đến mục tiêu lợi nhuận.
Những chính sách này tác động đến việc cung ứng tiền vào nền kinh tế và được gọi là tăng trưởng tín dụng. Tăng trưởng tín dụng dương khi các ngân hàng đưa thêm một lượng cung ứng tiền tệ vào lưu thông trong nền kinh tế và ngược lại. Chính sách tiền tệ lúc này ở các trạng thái nới lỏng hoặc thắt chặt. Nguyễn Văn Tiến (2013) cũng cho rằng tăng trưởng tín dụng là việc các NHTM sử dụng các chính sách nhằm tăng nguồn vốn huy động để đáp ứng cho hoạt động tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế.
Qua đó tìm kiếm lợi nhuận và nâng cao vị thế của họ trong nền kinh tế. Tăng trưởng tín dụng có chất lượng đem lại hiệu quả hoạt động cao cho các NHTM. Tín dụng có chất lượng được hiểu là các khoản tín dụng được cấp theo đúng các quy định an toàn vốn của NHNN; việc quản lý dòng vốn đi vào nền kinh tế đúng mục đích và các phương án giám sát khoản vay được triển khai đúng quy trình, thông qua đó, các khoản cấp tín dụng này được đảm bảo thu hồi đầy đủ và đúng hạn.