chương 1, tác giả trình bày mong muốn thực hiện đề tài “Phân tích tác động của TTTD đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam” và sơ lược về đề tài bao gồm xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu cũng như sơ lược về nội dung, đóng góp của đề tài. Tác giả đặt câu hỏi, chọn phương pháp nghiên cứu dựa trên mục tiêu nghiên cứu nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu nghiên cứu trong quá trình thực hiện khóa luận. Những nghiên cứu này có thể dùng để tham khảo nhằm hỗ trợ nâng cao lợi nhuận của các NHTM và hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2.
TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm về tín dụng ngân hàng và tăng trưởng tín dụng 2. Tín dụng ngân hàng Mối quan hệ giữa người cho vay và người vay được gọi là tín dụng. Người cho vay chuyển giao cho người vay quyền sử dụng tài sản trong một khoảng thời gian nhất định và người vay có nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ cả gốc và lãi khi đến hạn trả nợ.
Theo Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2024, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Theo Bùi Diệu Anh (2020), có hai chủ thể tham gia vào hoạt động tín dụng ngân hàng, hay nói cách khác, tín dụng ngân hàng là giao dịch giữa bên cấp tín dụng và bên nhận tín dụng, trong đó bên cấp tín dụng bao gồm ngân hàng hoặc các TCTD thực hiện chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng là khách hàng và sử dụng trong một thời hạn theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Như vậy, tín dụng ngân hàng là mối quan hệ kinh tế tài chính giữa ngân hàng với cá nhân, tổ chức. Ngân hàng thực hiện chuyển giao tài sản cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận.
Về phía khách hàng, cá nhân, tổ chức có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả vốn và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Tín dụng ngân hàng hoạt động dựa trên lòng tin giữa ngân hàng và khách hàng. Ngân hàng tin tưởng người đi vay sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích và có khả năng hoàn trả, bản thân người đi vay tin tưởng vào khả năng kiếm tiền của họ có thể hoàn trả đầy đủ món vay trong tương lai. Tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng 9 vốn từ ngân hàng sang khách hàng, có thời hạn và phải hoàn trả vô điều kiện.
Nguồn vốn cho vay chủ yếu là tiền gửi của khách hàng. Giá trị của tín dụng được bảo toàn và nâng cao nhờ lợi tức tín dụng. Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn rủi ro cao do nhiều có yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng, dẫn đến việc ngân hàng phải đối mặt với RRTD. Tùy thuộc vào thời hạn, đối tượng tài sản, người đi vay và người cho vay, mục đích và phương thức tín dụng mà quan hệ tín dụng ngày càng phát triển và được phân loại thành nhiều loại khác nhau, chẳng hạn như: Theo thời hạn tín dụng và mục đích sử dụng vốn: - Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn dưới 12 tháng (1 năm) nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân và bù đắp vốn lưu động của doanh nghiệp.
- Tín dụng trung hạn: Có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng (1 – 5 năm), đáp ứng nhu cầu về mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm tài sản cố định, đổi mới và cải tiến các thiết bị công nghệ, thực hiện các dự án mới, thời gian thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: Có thời hạn trên 60 tháng (5 năm) nhằm đáp ứng các nhu cầu dài hạn chẳng hạn như xây nhà, đầu tư các dự án lớn và lâu dài. Theo mức độ tín nhiệm của khách hàng: - Tín dụng có bảo hiểm: Là các khoản vay được cấp cho khách hàng với điều kiện áp dụng các hình thức bảo đảm tín dụng (cầm cố, bảo lãnh, thế chấp) nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng trong trường hợp khách hàng không thanh toán được khoản vay. - Tín dụng không có bảo hiểm: Là các khoản vay được cấp cho khách hàng chỉ dựa trên uy tín, thiện chí và khả năng trả nợ của khách hàng.
Theo phương thức tổ chức cấp tín dụng: - Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng trực tiếp thực hiện hoạt động thẩm định và cấp tín dụng cho khách hàng. - Tín dụng gián tiếp: Ngân hàng không trực tiếp thực hiện các hoạt động thẩm định và cấp tín dụng cho khách hàng mà tiến hành mua lại các khoản nợ đã phát 10 sinh từ người sở hữu trước khi khoản nợ đáo hạn (mua lại phiếu bán hàng hoặc thương phiếu). Theo phương pháp trả nợ: - Trả góp: Khách hàng trả cả nợ gốc và tiền lãi của khoản vay theo các kỳ hạn đã xác định cho đến khi hết hạn khoản vay. - Phi trả góp/ định kỳ: Tín dụng trả một lần (thanh toán cả gốc và lãi khi đáo hạn khoản vay); tín dụng trả lãi nhiều lần, trả gốc một lần (trả lãi nhiều lần, trả gốc một lần khi đáo hạn) - Hoàn trả tuần hoàn: Là các khoản vay mà vốn được phát ra và hoàn trả (gốc và lãi) nhiều lần không có kỳ hạn cụ thể 2.
Tăng trưởng tín dụng Theo Từ điển tiếng Việt thì “Tăng trưởng dùng để thể hiện sự phát triển về số lượng, quy mô, chất lượng của một sự vật, hiện tượng nào đó trong khoảng thời gian nhất định”. Như vậy, tăng trưởng tín dụng được xem là tốc độ gia tăng về số lượng và giá trị của các khoản vay hay tổng số tiền vay mà ngân hàng đưa cho các cá nhân, doanh nghiệp vay trong một khoảng thời gian nhất định. Tăng trưởng tín dụng phản ánh đa chiều hoạt động của TCTD và sức khỏe nền kinh tế. Đây còn là thước đo mức độ cho vay của các ngân hàng, thể hiện năng lực cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế.
Đồng thời, nhu cầu vay vốn của nền kinh tế cũng được phản ánh qua tốc độ tăng trưởng tín dụng, cho thấy mức độ sôi động của các lĩnh vực khác khi người tiêu dùng sử dụng vốn vay cho hoạt động sản xuất, đầu tư, kinh doanh và tiêu dùng. Ngoài ra, TTTD được xem là chỉ báo quan trọng về “sức khỏe tài chính” hay tình hình tài chính của hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng hợp lý thể hiện sự phát triển ổn định, lành mạnh của hệ thống ngân hàng, trong khi tăng trưởng quá mạnh hoặc sụt giảm đột ngột có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đối với lợi nhuận của ngân hàng, TTTD đóng vai trò vô cùng quan trọng, thúc đẩy hoạt động kinh doanh và gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Khi dư nợ tín dụng 11 gia tăng, ngân hàng thu được nhiều lãi suất cho vay hơn, đồng thời mở rộng cơ hội phát triển các dịch vụ tài chính khác, mang lại nguồn thu nhập đáng kể. Tuy nhiên, TTTD không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả tích cực. Nếu không được quản lý chặt chẽ, nó có thể dẫn đến rủi ro nợ xấu gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận và sự an toàn của hệ thống ngân hàng. Do đó, các ngân hàng cần thận trọng trong việc điều chỉnh tốc độ TTTD, đảm bảo an toàn và hiệu quả, cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận và quản lý rủi ro.
Việc theo dõi và phân tích TTTD là vô cùng quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách, tổ chức quản lý Nhà nước, các ngân hàng và nhà đầu tư. Qua đó, đưa ra những định hướng quản lý phù hợp, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hiệu quả. Chỉ số đo lường tăng trưởng tín dụng Tăng trưởng tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, phản ánh sự phát triển của hoạt động cho vay vốn và sức khỏe tài chính của hệ thống ngân hàng. Theo Đặng Văn Dân (2020), Đào Lê Kiều Oanh và cộng sự (2020), tỷ lệ TTTD của ngân hàng thường được tính bằng đơn vị phần trăm (%), chỉ số này mô tả số lần thay đổi (tăng hoặc giảm) của dư nợ tín dụng tại một thời điểm nhất định so với thời điểm trước đó (thường là tháng, quý hoặc năm) với công thức cụ thể như sau: Tỷ lệ TTTD (%) = (Dư nợ tín dụng cuối kỳ - Dư nợ tín dụng đầu kỳ) / Dư nợ (2.1) tín dụng đầu kỳ x 100% Trong đó: - Dư nợ tín dụng cuối kỳ: Là số dư nợ của các khoản vay đang lưu hành tại ngân hàng vào thời điểm cuối kỳ.
- Dư nợ tín dụng đầu kỳ: Là số dư nợ của các khoản vay đang lưu hành tại ngân hàng vào thời điểm đầu kỳ. Tỷ lệ tăng trưởng dương (%) cho biết dư nợ tín dụng tăng so với đầu kỳ, tỷ lệ tăng trưởng âm (%) cho biết dư nợ tín dụng giảm so với đầu kỳ và tỷ lệ tăng trưởng 0% cho biết dư nợ tín dụng không thay đổi so với đầu kỳ. LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm lợi nhuận của ngân hàng thương mại Theo Frederic S.
Mishkin (2018), lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí hoạt động của NHTM trong một kỳ kế toán nhất định. Yếu tố này phản ánh năng lực quản lý, sử dụng vốn của các TCTD, góp phần phát huy hiệu quả chính sách tiền tệ đối với hệ thống ngân hàng. Lợi nhuận ngân hàng là yếu tố quan trọng trong hệ thống tài chính và nền kinh tế. Lợi nhuận được xem là thước đo hiệu quả kinh doanh, đồng thời lợi nhuận là nguồn lực quan trọng để NHTM duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh, đảm bảo lợi ích cho cổ đông, đáp ứng hiệu quả nhu cầu vốn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách an toàn, hiệu quả và góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế.
Như vậy, lợi nhuận ngân hàng không chỉ phản ánh hiệu quả hoạt động của các TCTD mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của chính sách tiền tệ.