Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng của tác giả Dương Nguyễn Thanh Tâm (Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021) nghiên cứu về: "Tác động của tái cấu trúc đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam". Đề tài được xây dựng trên cơ sở các bối cảnh thực tiễn và khoảng trống nghiên cứu cụ thể:
- Bối cảnh thực tiễn: Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bùng phát từ Mỹ, kinh tế vĩ mô Việt Nam rơi vào chu kỳ suy giảm tăng trưởng trong các năm 2008 - 2009; dù có dấu hiệu phục hồi trong năm 2010 nhưng sau đó lại suy giảm từ năm 2011. Đi kèm với bất ổn vĩ mô, các tồn tại tích tụ nhiều năm của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) bộc lộ rõ nét: chất lượng tín dụng suy giảm nghiêm trọng; tỷ lệ tổng dư nợ tín dụng trên GDP đến cuối năm 2010 đạt 116% (vượt xa các quốc gia như Indonesia 35,11%, Ấn Độ 49%, Singapore 85,8% và Hàn Quốc 105%). Đến cuối năm 2011, nợ xấu toàn hệ thống theo báo cáo của các NHTM là 82.700 tỷ đồng (chiếm 3,30% tổng dư nợ), nhưng theo đánh giá theo chuẩn quốc tế của tổ chức Fitch Ratings thì tỷ lệ nợ xấu lên tới 13%. Nguồn dự phòng rủi ro chỉ bù đắp được 26,67% nợ xấu (theo số liệu Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng). Bên cạnh đó, hệ thống doanh nghiệp phụ thuộc nặng nề vào vốn vay nhưng hoạt động kém hiệu quả: 2.649 khách hàng thua lỗ gánh khoản dư nợ 67.911 tỷ đồng (chiếm 2,7% dư nợ toàn ngành); 1% khách hàng vay lớn nhất chiếm 13,6% tổng dư nợ có hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu từ 3 lần trở lên. Quy định tại Nghị định 141/2006/NĐ-CP đặt ra yêu cầu vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng đến cuối năm 2010, nhưng đến cuối năm 2011 vẫn còn 3 NHTM chưa đạt và nhiều ngân hàng có vốn dưới 5.000 tỷ đồng. Hiệu quả tài chính toàn ngành ở mức thấp so với rủi ro: năm 2010 chỉ tiêu ROE đạt 17,19% và ROA chỉ đạt 1,2%. Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) ra Kết luận số 10-KL/TW ngày 18/10/2011 chỉ đạo tái cơ cấu hệ thống tài chính - ngân hàng; Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP đầu năm 2012, phê duyệt Đề án 254 (Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012) cho giai đoạn 2011 - 2015, tiếp tục phê duyệt Đề án 1058 (Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2017) cho giai đoạn 2016 - 2020 gắn với xử lý nợ xấu, và Quốc hội thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.
- Khoảng trống nghiên cứu: Thứ nhất, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu so sánh toàn diện hiệu quả tài chính trung bình giữa các giai đoạn tái cấu trúc (2012 - 2015, 2016 - 2019) so với trước tái cấu trúc (2007 - 2011), cũng như so sánh phân nhóm giữa NHTM nhà nước (NHTM_NN) với NHTM cổ phần (NHTM_CP), giữa NHTM có mua bán sáp nhập (NHTM_MA) và không tham gia mua bán sáp nhập (NHTM_NO). Thứ hai, các nghiên cứu thực nghiệm trong nước trước đây chỉ giới hạn trong khung thời gian ngắn khi hệ thống mới bắt đầu tái cấu trúc (như giai đoạn 2007 - 2013 hoặc 1999 - 2015). Thứ ba, các nghiên cứu trước thường chỉ xem xét một vài biến đại diện đơn lẻ, chưa bao quát đầy đủ cả ba mảng tái cấu trúc tài chính, sở hữu và hoạt động theo tinh thần Đề án 254. Thứ tư, các mô hình hồi quy OLS trong nghiên cứu trước chưa xử lý triệt để hiện tượng nội sinh, tự tương quan và phương sai thay đổi của dữ liệu bảng.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Đánh giá tác động của tái cấu trúc đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2019 để đưa ra các hàm ý chính sách cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các NHTM nhằm mục tiêu gia tăng hiệu quả tài chính của NHTM Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 – 2019.
- Đo lường mức độ tác động của các nhân tố thuộc hoạt động tái cấu trúc đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam.
- Đưa ra các hàm ý chính sách cho NHNN và các NHTM Việt Nam nhằm mục tiêu gia tăng hiệu quả tài chính của NHTM Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2019 như thế nào?
- Mức độ tác động của từng nhân tố thuộc hoạt động tái cấu trúc đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam như thế nào?
- Hàm ý chính sách nào cho NHNN và các NHTM Việt Nam giúp gia tăng hiệu quả tài chính của NHTM Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả tài chính và tác động của tái cấu trúc đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Mẫu nghiên cứu gồm 30 NHTM trong nước tại Việt Nam (bao gồm NHTM có sở hữu Nhà nước chi phối trên 50% hoặc 100% vốn nhà nước, và các NHTM_CP). Quy mô mẫu chiếm hơn 80% tổng tài sản toàn hệ thống NHTM Việt Nam (35 ngân hàng). Luận án loại trừ 3 ngân hàng bị NHNN mua bắt buộc giá 0 đồng (NHTM Dầu khí Toàn cầu, NHTM Đại Dương, NHTM Xây dựng) và NHTM CP Bảo Việt do không có số liệu đầy đủ.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2007 – 2019, phân tách thành 3 giai đoạn: trước tái cấu trúc (2007 – 2011), tái cấu trúc giai đoạn một (2012 – 2015 theo Đề án 254) và tái cấu trúc giai đoạn hai (2016 – 2019 theo Đề án 1058).
- Phạm vi nội dung: Hiệu quả tài chính được đo lường qua ba chỉ số kế toán: ROAA, ROEA, NIM; không sử dụng chỉ số thị trường (Tobin’s Q, Marris) do nhiều ngân hàng chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng kết hai hướng nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu trong y văn quốc tế và trong nước:
1. Các nghiên cứu về hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại:
- Phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA): Điển hình là nghiên cứu của Can và Ariff (2008) tại 4 quốc gia (Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan, Philippines). Tại Việt Nam, phương pháp DEA được áp dụng trong các công trình của Nguyễn Việt Hùng (2008), Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh (2012), Phan Thị Hằng Nga và Nguyễn Phương Thanh (2016).
- Phương pháp kiểm định thống kê (t-test): Cornett và cộng sự (2010a) thực hiện tại 16 quốc gia châu Á; Bilal và Amin (2015) khảo sát tại Pakistan; Nguyễn Phạm Nhã Trúc và Nguyễn Phạm Thiên Thanh (2015) nghiên cứu tại Việt Nam. Các nghiên cứu này tập trung so sánh hiệu quả giữa các giai đoạn (trước - sau khủng hoảng, trước - sau tái cấu trúc) hoặc giữa các nhóm sở hữu ngân hàng.
2. Các nghiên cứu về tác động của tái cấu trúc đến hiệu quả tài chính:
- Nghiên cứu tác động tổng thể: Dziobek và Pazarbasioglu (1998), Curak và cộng sự (2012), Kithinji và cộng sự (2017). Tại Việt Nam, có nghiên cứu của Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2015), Võ Xuân Vinh và Nguyễn Hữu Huân (2018).
- Tác động của tái cấu trúc tài chính: Osoro (2014), Hsiao và cộng sự (2010), Saeed và cộng sự (2013), Jeon và Miller (2004), Thoraneenitiyan và Avkiran (2009).
- Tác động của tái cấu trúc sở hữu: Berger và cộng sự (2005), Patti và Hardy (2005), Williams và Nguyen (2005), Thoraneenitiyan và Avkiran (2009), Lin và Zhang (2009), Badreldin và Kalhoefer (2009), Lin và cộng sự (2016).
- Tác động của tái cấu trúc hoạt động: Rose (1994), Bowman (1999), Frank và Sanbaz (2002), Samina và Zaman (2015), AlAli (2020).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
- Khoảng trống về không gian và thời gian: Bổ sung dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam trong khung thời gian kéo dài 13 năm (2007 – 2019), bao trọn cả hai chu kỳ của Đề án 254 và Đề án 1058, khắc phục hạn chế về chuỗi dữ liệu ngắn của các công trình trước.
- Khoảng trống về đối tượng nghiên cứu: Tích hợp đồng bộ hệ thống biến số phản ánh toàn diện ba hình thức tái cấu trúc (tài chính, sở hữu, hoạt động) theo đúng diễn biến thực tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam, tăng cường năng lực giải thích của mô hình kinh tế lượng.
- Khoảng trống về phương pháp nghiên cứu: Khắc phục các khuyết tật của mô hình OLS truyền thống (đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai sai số thay đổi) bằng việc thực hiện hồi quy dữ liệu bảng qua FEM, REM và ứng dụng mô hình GMM hệ thống (SGMM) nhằm giải quyết triệt để hiện tượng nội sinh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án vận dụng các hệ thống lý thuyết nền tảng sau:
- Lý thuyết giải thích hiệu quả tài chính: Luận án kết hợp Lý thuyết Quyền lực thị trường (Market Power - MP) gồm giả thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP của Bain, 1951 phát triển từ Marshall, 1920) và Quyền lực thị trường tương đối (RMP của Hymer, 1970; Berger, 1995); cùng với Lý thuyết Cấu trúc hiệu quả (Efficient Structure - ES) gồm hiệu quả kỹ thuật X (X-Efficiency của Al-Muharrami và Matthews, 2009) và hiệu quả theo quy mô (Scale-Efficiency của Olweny và Shipho, 2011).
- Lý thuyết giải thích tác động của tái cấu trúc:
- Lý thuyết trung gian tài chính: (Gurley và Shaw, 1960; Benston và Smith, 1976; Fama, 1980; Guttentag và Lindsay, 1968; Merton, 1995; Andries và Cuza, 2009; Chang và cộng sự, 2014) giải thích sự cần thiết của việc tái cấu trúc nhằm khắc phục sự bất cân xứng thông tin, cắt giảm chi phí giao dịch và nâng cao năng lực trung gian tín dụng.
- Lý thuyết nguồn lực (RBV/RBT): (Penrose, 1959; Hoffer và Schendel, 1978; Wernerfelt, 1984; Barney, 1991; Peteraf và Barney, 2003) phân tích vai trò của việc tái cơ cấu tài sản, vốn tự có và quy mô nguồn lực nội tại tạo dựng lợi thế cạnh tranh.
- Lý thuyết người đại diện: (Jensen và Meckling, 1976; Fama và Jensen, 1983) làm cơ sở giải thích tái cấu trúc sở hữu, phân tách giữa quyền sở hữu và quyền điều hành nhằm giảm chi phí đại diện.
- Lý thuyết vòng đời: Giải thích nhu cầu tái cấu trúc vận hành theo từng chu kỳ phát triển của tổ chức tín dụng.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp định tính: Liệt kê, phân tích, so sánh, tổng hợp lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm; sử dụng đồ thị mô tả diễn biến các chỉ tiêu tài chính qua các thời kỳ.
- Phương pháp định lượng:
- Kiểm định t-test so sánh giá trị trung bình về ROAA, ROEA, NIM giữa nhóm NHTM_CP và NHTM_NN, giữa nhóm NHTM_MA và NHTM_NO.
- Hồi quy đa biến trên dữ liệu bảng: Thực hiện ước lượng lần lượt qua mô hình bình phương nhỏ nhất gộp (POLS/OLS), mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), và sử dụng phương pháp mô men tổng quát hệ thống (SGMM) để xử lý biến nội sinh và các khuyết tật mô hình. Toàn bộ tính toán được chạy trên phần mềm Stata 13.
Hệ thống biến số và dữ liệu nghiên cứu
- Biến phụ thuộc: Hiệu quả tài chính được đo lường bằng:
- $ROAA = \text{Lợi nhuận sau thuế} / \text{Tổng tài sản bình quân}$
- $ROEA = \text{Lợi nhuận sau thuế} / \text{Vốn chủ sở hữu bình quân}$
- $NIM = (\text{Thu nhập lãi} - \text{Chi phí lãi}) / \text{Tổng tài sản bình quân}$
- Biến giải thích thuộc nhóm tái cấu trúc tài chính: LTE (Nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu), NPL (Tỷ lệ nợ xấu), INT (Sự hỗ trợ của nhà nước qua mua nợ xấu của VAMC), ETA (Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản), CAR (Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu).
- Biến giải thích thuộc nhóm tái cấu trúc sở hữu: FOR (Tỷ lệ sở hữu nước ngoài), STA (Tỷ lệ sở hữu Nhà nước), MVA (Biến giả mua bán sáp nhập), PRV (Biến giả cổ phần hóa NHTM nhà nước).
- Biến giải thích thuộc nhóm tái cấu trúc hoạt động: EXP (Mở rộng quy mô chi nhánh, phòng giao dịch, cây ATM), LAB (Số lượng nhân viên), CTI (Tỷ lệ chi phí trên thu nhập), CTA (Chi phí hoạt động trên tổng tài sản).
- Biến giai đoạn và biến kiểm soát: RE1 (Giai đoạn tái cấu trúc thứ nhất: 2012 – 2015), RE2 (Giai đoạn tái cấu trúc thứ hai: 2016 – 2019), SIZ (Quy mô ngân hàng qua logarit tổng tài sản), GDP (Tốc độ tăng trưởng GDP), INF (Tỷ lệ lạm phát), và biến trễ của biến phụ thuộc ($ROAA_{-1}, ROEA_{-1}, NIM_{-1}$).
- Nguồn dữ liệu: Thu thập từ Báo cáo tài chính đã kiểm toán và Báo cáo thường niên của 30 NHTM giai đoạn 2007 – 2019; báo cáo của NHNN, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, VAMC và Ngân hàng Thế giới.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 1 thiết lập khung đề dẫn cho toàn bộ luận án. Tác giả phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô và sự tích tụ các rủi ro hệ thống của ngành ngân hàng Việt Nam sau năm 2008 dẫn tới sự ra đời của Đề án 254 và Đề án 1058. Tác giả xác lập rõ 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi dữ liệu gồm 30 NHTM trong giai đoạn 13 năm (2007 – 2019), quy trình nghiên cứu logic từ tổng quan lý thuyết đến phân tích định lượng bằng Stata 13, và cấu trúc gồm 5 chương của công trình.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm
Chương này chuẩn hóa các định nghĩa khoa học về tái cấu trúc NHTM và phân định 3 nội dung: tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc sở hữu, tái cấu trúc hoạt động. Đồng thời, chương 2 phân tích các khái niệm về hiệu quả tài chính và hệ thống hóa 4 lý thuyết giải thích cơ chế tác động: lý thuyết trung gian tài chính, lý thuyết nguồn lực, lý thuyết người đại diện và lý thuyết vòng đời. Tác giả tổng hợp chi tiết các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam qua hai bảng hệ thống: Bảng 2.1 (nghiên cứu về hiệu quả tài chính) và Bảng 2.2 (nghiên cứu về tác động của tái cấu trúc đến hiệu quả tài chính), làm căn cứ chỉ ra các khoảng trống khoa học cần giải quyết.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày việc xây dựng các giả thuyết nghiên cứu cho từng biến độc lập trong ba nhóm hoạt động tái cấu trúc và các biến kiểm soát. Bảng 3.1 mô tả chi tiết phương pháp đo lường các biến số. Tác giả thiết lập ba phương trình hồi quy dữ liệu bảng tương ứng với ba biến phụ thuộc ($ROAA, ROEA, NIM$). Quy trình nghiên cứu kết hợp giữa kiểm định t-test đánh giá sai biệt trung bình giữa các nhóm ngân hàng và phương pháp hồi quy dữ liệu bảng so sánh giữa OLS, FEM, REM và SGMM trên phần mềm Stata 13 nhằm bảo đảm tính vững của các ước lượng.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 cung cấp kết quả thực nghiệm chi tiết qua hệ thống bảng biểu và phân tích thống kê:
- Thực trạng hiệu quả tài chính (Bảng 4.1, Hình 4.1): Trước tái cấu trúc, hiệu quả tài chính trung bình của 30 NHTM ở mức cao; khi kinh tế suy thoái và bắt đầu tái cấu trúc năm 2011, hiệu quả tài chính giảm sút rõ rệt trong giai đoạn 1 (2012 – 2015). Sang giai đoạn 2 (2016 – 2019), hiệu quả tài chính phục hồi và khởi sắc mạnh mẽ vào năm 2019.
- So sánh NHTM_CP và NHTM_NN (Bảng 4.3 đến 4.8): Trước tái cấu trúc, NHTM_CP có ROAA tốt hơn nhưng ROEA và NIM thấp hơn NHTM_NN. Giai đoạn 1 (2012 – 2015), hiệu quả của cả hai nhóm đều giảm sút; ROAA, ROEA và NIM của NHTM_CP đều thấp hơn NHTM_NN. Giai đoạn 2 (2016 – 2019), NHTM_CP cải thiện đáng kể, ROAA của NHTM_CP vượt NHTM_NN, và chỉ số NIM tiệm cận NHTM_NN.
- So sánh NHTM_MA và NHTM_NO (Bảng 4.9 đến 4.11): Trước năm 2016, hiệu quả tài chính của nhóm NHTM có tham gia M&A cao hơn nhóm không tham gia M&A. Sang giai đoạn 2, hiệu quả của nhóm NHTM_MA sụt giảm so với NHTM_NO do phải chia sẻ rủi ro và gánh vác nợ xấu từ các ngân hàng yếu kém sáp nhập vào, tuy nhiên sau đó hiệu quả sau sáp nhập thể hiện xu hướng tăng dần.
- Kết quả hồi quy thực nghiệm SGMM (Bảng 4.20 đến 4.24): Kiểm định mô hình khẳng định phương pháp SGMM là phù hợp nhất. Kết quả ước lượng GMM1, GMM2, GMM3 phản ánh chi tiết tác động của từng nhân tố tài chính, sở hữu và vận hành đến ROAA, ROEA và NIM.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Dựa trên kết quả nghiên cứu ở chương 4, tác giả đưa ra các nhóm hàm ý chính sách đối với NHTM (về cấu trúc nợ, nâng cao tỷ lệ an toàn vốn CAR, quản trị nợ xấu, cơ cấu sở hữu nước ngoài, cổ phần hóa và kiểm soát chi phí hoạt động CTI, CTA) và đối với Ngân hàng Nhà nước (về hoàn thiện hành lang pháp lý, khuôn khổ giám sát tái cơ cấu, xử lý tài sản bảo đảm qua VAMC). Chương này cũng trình bày các hạn chế về dữ liệu và đề xuất các hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai.
Kết quả và những đóng góp mới
Kết quả tác động thực nghiệm của các biến số
Kết quả phân tích hồi quy theo phương pháp GMM hệ thống (SGMM) đối với 30 NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2019 được tổng hợp theo chiều hướng tác động tại bảng sau:
| Nhóm nhân tố |
Biến số |
Tác động đến ROAA |
Tác động đến ROEA |
Tác động đến NIM |
| Biến trễ hiệu quả |
$ROAA_{-1}, ROEA_{-1}, NIM_{-1}$ |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
| Tái cấu trúc tài chính |
LTE (Nợ phải trả / Vốn chủ sở hữu) |
Ngược chiều (-) |
Ngược chiều (-) |
Ngược chiều (-) |
|
NPL (Tỷ lệ nợ xấu) |
Ngược chiều (-) |
Ngược chiều (-) |
Cùng chiều (+) |
|
INT (Hỗ trợ của Nhà nước qua VAMC) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
|
ETA (Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
|
CAR (Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
| Tái cấu trúc sở hữu |
FOR (Tỷ lệ sở hữu nước ngoài) |
Không có ý nghĩa |
Cùng chiều (+) |
Không có ý nghĩa |
|
STA (Tỷ lệ sở hữu Nhà nước) |
Ngược chiều (-) |
Ngược chiều (-) |
Ngược chiều (-) |
|
MVA (Mua bán và sáp nhập) |
Ngược chiều (-) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
|
PRV (Cổ phần hóa NHTM nhà nước) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
| Tái cấu trúc hoạt động |
EXP (Mạng lưới chi nhánh, PGD, ATM) |
Không có ý nghĩa |
Không có ý nghĩa |
Cùng chiều (+) |
|
LAB (Số lượng lao động nhân viên) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
Không có ý nghĩa |
|
CTI (Tỷ lệ chi phí trên thu nhập) |
Ngược chiều (-) |
Ngược chiều (-) |
Ngược chiều (-) |
|
CTA (Chi phí hoạt động / Tổng tài sản) |
Ngược chiều (-) |
Ngược chiều (-) |
Cùng chiều (+) |
| Biến bối cảnh & Vĩ mô |
RE1 (Giai đoạn tái cấu trúc thứ nhất) |
Không có ý nghĩa |
Không có ý nghĩa |
Ngược chiều (-) |
|
RE2 (Giai đoạn tái cấu trúc thứ hai) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
|
GDP (Tăng trưởng kinh tế) |
Cùng chiều (+) |
Cùng chiều (+) |
Ngược chiều (-) |
|
INF (Tỷ lệ lạm phát) |
Ngược chiều (-) |
Ngược chiều (-) |
Cùng chiều (+) |
Những đóng góp mới của luận án
- Đóng góp về mặt lý thuyết:
- Khái quát hóa hệ thống lý thuyết về tái cấu trúc và hiệu quả tài chính của NHTM. Vận dụng tổng hòa các lý thuyết nền tảng: lý thuyết quyền lực thị trường và lý thuyết cấu trúc hiệu quả để đánh giá hiệu quả tài chính; lý thuyết trung gian tài chính, lý thuyết người đại diện, lý thuyết vòng đời và lý thuyết nguồn lực để xây dựng mô hình tác động của ba mảng tái cấu trúc.
- Thiết lập mô hình nghiên cứu bao quát, đầy đủ các biến đại diện cho cả ba hoạt động: tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc sở hữu và tái cấu trúc hoạt động.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Chỉ ra diễn biến hiệu quả tài chính của NHTM Việt Nam qua các giai đoạn: thời gian đầu tái cấu trúc (2012 – 2015) hiệu quả chưa được cải thiện, nhưng sang giai đoạn thứ hai (2016 – 2019) đã có sự phục hồi rõ rệt.
- Chứng minh bằng thực nghiệm: NHTM_NN nhìn chung có hiệu quả cao hơn NHTM_CP, nhưng NHTM_CP có bước tiến mạnh mẽ để tiệm cận và vượt NHTM_NN ở một số chỉ tiêu vào cuối giai đoạn 2. Nhóm ngân hàng thực hiện M&A có hiệu quả suy giảm do chia sẻ rủi ro nhưng theo xu hướng tăng dần.
- Xác định rõ chiều hướng tác động của từng biến thuộc tái cấu trúc tài chính, sở hữu và hoạt động đến hiệu quả tài chính, làm căn cứ thực chứng cho các nhà quản trị NHTM và NHNN.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với các NHTM:
- Tái cấu trúc tài chính: Kiểm soát hệ số đòn bẩy nợ (LTE); kiềm chế và xử lý nợ xấu (NPL); gia tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu (ETA) và nâng cao tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo chuẩn mực Basel II.
- Tái cấu trúc sở hữu: Đẩy mạnh thu hút dòng vốn sở hữu nước ngoài (FOR) để tăng cường năng lực tài chính và quản trị; giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước (STA); thận trọng trong các thương vụ mua bán sáp nhập (MVA), xây dựng lộ trình tiếp nhận và xử lý tài sản của ngân hàng yếu kém.
- Tái cấu trúc hoạt động: Tiết giảm chi phí hoạt động qua việc hạ thấp tỷ lệ CTI và CTA; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (LAB); mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch và ATM (EXP) đi kèm với chuyển dịch công nghệ số hóa.
- Đối với Ngân hàng Nhà nước: Tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm (theo cơ chế Nghị quyết 42); phát huy vai trò mua bán nợ của VAMC; đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa các NHTM nhà nước; giám sát an toàn vĩ mô và sở hữu chéo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi mẫu: Luận án mới chỉ thực hiện trên 30 NHTM trong nước có báo cáo tài chính đầy đủ. Luận án chưa thể đưa vào mẫu nghiên cứu 3 NHTM bị NHNN mua bắt buộc giá 0 đồng (NHTM Dầu khí Toàn cầu, NHTM Đại Dương, NHTM Xây dựng) và NHTM CP Bảo Việt do hạn chế về công bố dữ liệu.
- Chỉ tiêu đo lường: Nghiên cứu chỉ sử dụng các chỉ số tài chính dựa trên dữ liệu kế toán (ROAA, ROEA, NIM), chưa thể đo lường qua các chỉ số thị trường như hệ số Marris hay Tobin’s Q do nhiều NHTM trong mẫu chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán.
- Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu dừng lại ở năm 2019, chưa đánh giá được các biến động của giai đoạn kinh tế tiếp sau.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng khung thời gian nghiên cứu cho giai đoạn sau năm 2019 nhằm đánh giá toàn diện chu kỳ hoàn tất Đề án 1058 và giai đoạn tiếp theo.
- Bổ sung các thước đo thị trường (Tobin's Q, Marris) khi tỷ lệ niêm yết của các NHTM Việt Nam gia tăng.
- Nghiên cứu chuyên sâu dài hạn về tác động của các thương vụ sáp nhập ngân hàng sau thời kỳ tái cơ cấu ban đầu.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Tham khảo khung lý thuyết tổng hợp về tái cấu trúc ngân hàng (kết hợp lý thuyết trung gian tài chính, lý thuyết nguồn lực, lý thuyết người đại diện); tham khảo phương pháp xử lý dữ liệu bảng động bằng mô hình hồi quy GMM hệ thống (SGMM) trên phần mềm Stata 13 để giải quyết hiện tượng nội sinh trong kinh tế lượng tài chính (Chương 2 và Chương 3).
- Ban lãnh đạo và nhà quản trị tại các NHTM: Vận dụng kết quả định lượng tại Chương 4 để cân đối tỷ lệ đòn bẩy nợ, tối ưu hóa tỷ lệ an toàn vốn CAR, quản trị chi phí hoạt động (CTI, CTA) và định hướng chiến lược tham gia mua bán sáp nhập, mở rộng mạng lưới giao dịch gắn với công nghệ.
- Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý chính sách: Tham khảo bằng chứng thực nghiệm về kết quả hai giai đoạn tái cấu trúc (Đề án 254 và Đề án 1058), hiệu quả can thiệp xử lý nợ qua VAMC để tiếp tục định hình chính sách cơ cấu lại các tổ chức tín dụng trong các giai đoạn tiếp theo.
Câu hỏi thường gặp
1. Giai đoạn tái cấu trúc thứ nhất (2012 – 2015) và thứ hai (2016 – 2019) tác động khác nhau như thế nào đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam?
Trong giai đoạn thứ nhất (RE1: 2012 – 2015 theo Đề án 254), hiệu quả tài chính của cả hệ thống sụt giảm do kinh tế suy thoái và việc phát lộ, trích lập nợ xấu; biến RE1 có tác động âm có ý nghĩa thống kê đến chỉ số NIM. Sang giai đoạn thứ hai (RE2: 2016 – 2019 theo Đề án 1058), hiệu quả tài chính phục hồi rõ rệt và khởi sắc vào năm 2019; biến RE2 tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến cả ba chỉ tiêu ROAA, ROEA và NIM.
2. Hiệu quả tài chính giữa NHTM cổ phần (NHTM_CP) và NHTM nhà nước (NHTM_NN) có sự phân hóa ra sao qua các thời kỳ?
Trước tái cấu trúc, NHTM_CP tạo ra ROAA tốt hơn nhưng có ROEA và NIM thấp hơn NHTM_NN. Giai đoạn 2012 – 2015, hiệu quả của cả hai nhóm cùng giảm sút, các chỉ tiêu ROAA, ROEA, NIM của NHTM_CP đều thấp hơn NHTM_NN. Đến giai đoạn 2016 – 2019, NHTM_CP cải thiện mạnh mẽ, chỉ số ROA vượt cao hơn NHTM_NN và chỉ số NIM tiệm cận mức của NHTM_NN.
3. Hoạt động mua bán và sáp nhập (MVA) ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả của các ngân hàng tham gia?
Trước giai đoạn tái cấu trúc thứ hai (năm 2016), nhóm NHTM có M&A đạt hiệu quả cao hơn nhóm không tham gia. Tuy nhiên trong giai đoạn 2, hiệu quả của nhóm NHTM_MA bị suy giảm so với NHTM_NO do các ngân hàng lành mạnh phải chia sẻ rủi ro và gánh nợ xấu từ ngân hàng yếu kém sáp nhập vào, nhưng sau đó có xu hướng tăng dần. Trong mô hình hồi quy SGMM, biến MVA có tác động ngược chiều đến ROAA nhưng tác động cùng chiều đến ROEA và NIM.
4. Biến can thiệp của Nhà nước (INT) thông qua xử lý nợ xấu tác động ra sao đến các chỉ tiêu hiệu quả tài chính?
Biến INT (đo lường sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc VAMC mua nợ xấu của NHTM) có tác động cùng chiều (+) có ý nghĩa thống kê đến cả ba thước đo ROAA, ROEA và NIM. Điều này chứng minh giải pháp đưa nợ xấu ra khỏi bảng cân đối kế toán qua trái phiếu đặc biệt VAMC đã trực tiếp hỗ trợ cải thiện hiệu quả tài chính của các ngân hàng.
5. Vì sao luận án không sử dụng chỉ số Tobin’s Q và hệ số Marris để đo lường hiệu quả tài chính?
Do tại thời điểm nghiên cứu (2007 – 2019), một số NHTM trong mẫu khảo sát 30 ngân hàng chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, khiến dữ liệu giá trị thị trường của cổ phiếu và vốn chủ sở hữu không được thu thập đầy đủ, vì vậy tác giả sử dụng các chỉ số dựa trên số liệu kế toán bình quân gồm ROAA, ROEA và NIM.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Nguyễn Thanh Tâm đã cung cấp nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tái cấu trúc đến hiệu quả tài chính của 30 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2019 thông qua phương pháp hồi quy dữ liệu bảng GMM hệ thống (SGMM). Kết quả nghiên cứu xác nhận hiệu quả tài chính của hệ thống ngân hàng trải qua sự suy giảm trong giai đoạn tái cấu trúc thứ nhất (2012 – 2015) trước khi phục hồi và khởi sắc trong giai đoạn tái cấu trúc thứ hai (2016 – 2019). Các biện pháp tái cấu trúc tài chính (nâng cao CAR, vốn chủ sở hữu, hỗ trợ xử lý nợ qua VAMC) và tái cấu trúc sở hữu (cổ phần hóa NHTM nhà nước) mang lại tác động tích cực đến hiệu quả tài chính, trong khi đòn bẩy nợ, tỷ lệ nợ xấu và chi phí vận hành tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời. Những phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học và thực chứng cho các nhà quản trị NHTM trong việc điều hành kinh doanh cũng như giúp Ngân hàng Nhà nước hoạch định các chính sách cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng.