Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò huyết mạch trong thị trường tài chính - tiền tệ và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, đóng vai trò chủ đạo trong việc khai thác nguồn lực tài chính, đáp ứng nhu cầu tín dụng và hỗ trợ thực hiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro mang tính hệ thống. Trong giai đoạn từ năm 2012, ngành ngân hàng Việt Nam ghi nhận sự suy giảm đáng kể với mức tăng trưởng tín dụng chạm đáy trong vòng 20 năm, nợ xấu gia tăng, thị trường vàng biến động, lợi nhuận sụt giảm, nhiều tổ chức tín dụng thua lỗ và 9 ngân hàng yếu kém buộc phải bước vào quá trình tái cơ cấu.

Bước sang giai đoạn 2014–2018, yêu cầu cải thiện và duy trì sự ổn định tài chính của hệ thống NHTM trở thành ưu tiên hàng đầu của cơ quan quản lý. Tiến trình tái cấu trúc, mua bán - sáp nhập (M&A) diễn ra mạnh mẽ, bao gồm việc Ngân hàng Nhà nước mua lại bắt buộc một số ngân hàng yếu kém với giá 0 đồng hoặc đặt dưới diện kiểm soát đặc biệt. Quá trình này làm sụt giảm số lượng ngân hàng thương mại, trong khi tín dụng tăng trưởng nhanh và xuất hiện tình trạng một số ngân hàng lớn thâu tóm, chi phối hoạt động toàn ngành, đặt ra quan ngại về an toàn và ổn định hệ thống.

Về mặt học thuật, tác động của cấu trúc sở hữu đến sự ổn định ngân hàng vẫn tồn tại nhiều kết quả trái chiều:

  • Các nghiên cứu quốc tế của García-Marco & Robles-Fernández (2008), Barry và cộng sự (2011), Dong và cộng sự (2014), Chalermchatvichien và cộng sự (2014) chỉ ra rằng sở hữu tập trung cao giúp ngân hàng hoạt động ổn định hơn, giảm thiểu rủi ro tài sản, rủi ro vỡ nợ và rủi ro thanh khoản nhờ tăng cường vai trò giám sát của cổ đông lớn.
  • Ngược lại, tại Việt Nam, nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức (2020) cho thấy sở hữu tập trung càng cao thì sự bất ổn của NHTM càng lớn, làm gia tăng rủi ro phá sản, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản.

Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn và khoảng trống học thuật trên, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp với tiêu đề "Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng".

Mục tiêu nghiên cứu

  • 1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Nghiên cứu để tìm ra sự tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng trong giai đoạn 2011–2021.
  • 1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
    1. Tìm những biến tác động đến sự ổn định ngân hàng Việt Nam thông qua các nghiên cứu đi trước; lựa chọn các biến phù hợp và xây dựng mô hình thể hiện mối tương quan giữa các biến sở hữu tập trung và ổn định ngân hàng.
    2. Tìm dấu hiệu và mức độ ảnh hưởng của các biến trong mô hình tác động đến sự ổn định trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.
    3. Đưa ra các giải pháp dựa trên kết quả nghiên cứu.

Câu hỏi nghiên cứu

  • Các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự ổn định hệ thống ngân hàng Việt Nam, sở hữu tập trung được đo lường như thế nào và có tác động ra sao đến sự ổn định ngân hàng trong các nghiên cứu trước đây?
  • Ổn định ngân hàng được đo lường bởi yếu tố nào?
  • Giải pháp nào được đưa ra để duy trì sự ổn định dựa vào kết quả nghiên cứu?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng.
  • Phạm vi không gian: 28 NHTM Việt Nam bao gồm: ABB, ACB, BAB, BIDV, BVB, BaoVietBank, CTG, EIB, HDB, KLB, LPB, MBB, MSB, NAB, NVB, OCB, PGB, SCB, SSB, SGB, SHB, STB, TCB, TPB, VAB, VCB, VIB, VPB.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 11 năm, từ năm 2011 đến năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết nền tảng

Nghiên cứu dựa trên ba lý thuyết kinh tế tài chính nền tảng để giải thích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu, quy mô và sự ổn định ngân hàng:

  1. Lý thuyết quá lớn để sụp đổ (Too Big To Fail): Khởi nguồn từ Stewart McKinney (1984) và phát triển bởi Stern & Feldman (2004), lý thuyết lập luận rằng các định chế tài chính quy mô lớn có mức độ liên kết chặt chẽ trong hệ thống kinh tế, nếu sụp đổ sẽ tạo ra thảm họa dây chuyền. Do kỳ vọng nhận được sự can thiệp và giải cứu từ chính phủ, các ngân hàng lớn có xu hướng chấp nhận rủi ro quá mức, hạ chuẩn tín dụng, dẫn đến nợ xấu gia tăng và làm suy giảm sự ổn định hệ thống.
  2. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficient Structure Theory): Được Harold Demsetz (1973) đề xuất và cụ thể hóa bởi Olweny & Shipho (2011) qua hai hướng tiếp cận:
    • Giả thuyết hiệu suất X (X-efficiency): Ngân hàng đạt lợi nhuận và thị phần cao nhờ khả năng tối thiểu hóa chi phí quản lý vận hành, sáp nhập và tối ưu giá dịch vụ.
    • Giả thuyết quy mô hiệu quả (Scale-efficiency): Các tổ chức quy mô lớn đạt chi phí đơn vị thấp, từ đó kiểm soát thị phần, tối ưu biên lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro hoạt động. Lý thuyết khẳng định năng lực quản trị nội bộ quyết định mức độ ổn định của ngân hàng.
  3. Lý thuyết người đại diện (Agency Theory): Khởi xướng bởi Michael Jensen & William Meckling (1976), bổ sung bởi Fama & Jensen (1983). Do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, xung đột lợi ích phát sinh khi người điều hành có xu hướng vị kỷ, trục lợi từ bất cân xứng thông tin, dẫn đến chi phí đại diện (Agency Costs). Khi quyền sở hữu tập trung vào tay một số cổ đông lớn, các cổ đông này có đủ quyền lực và động lực để giám sát chặt chẽ ban điều hành, giảm chi phí đại diện và hạn chế các hành vi đầu cơ rủi ro.

Khái niệm và phương pháp đo lường các biến

  • Sở hữu tập trung (CCT): Đại diện cho mức độ cổ phiếu của ngân hàng nằm trong tay các cổ đông lớn (Pedersen & Thomsen, 1999; Võ Đại Thành, 2021). Trong mô hình thực nghiệm, tác giả sử dụng thước đo tỷ lệ sở hữu của 01 cổ đông lớn nhất (theo Agusman và cộng sự, 2014; Wen & Jia, 2010).

  • Ổn định ngân hàng (Zscore): Được đo lường thông qua chỉ số Zscore theo công thức kế thừa từ Boyd & Runkle (1993) và Altman (1968, 2000):

    $$\text{Zscore}{it} = \frac{\text{ROA}{it} + \text{EQA}{it}}{\sigma\text{ROA}{it}}$$

    Trong đó: $\text{ROA}{it}$ là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân; $\text{EQA}{it}$ là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản; $\sigma\text{ROA}_{it}$ là độ lệch chuẩn của ROA. Chỉ số Zscore đo lường khoảng cách đến ngưỡng phá sản; giá trị Zscore càng cao thể hiện mức độ ổn định càng lớn.

STT Ký hiệu Tên biến Phương pháp đo lường Kỳ vọng dấu
Biến phụ thuộc
1 Zscore Ổn định tài chính $(\text{EQA} + \text{ROA}) / \sigma\text{ROA}$
Biến độc lập
2 CCT Sở hữu tập trung Tỷ lệ sở hữu của 01 cổ đông lớn nhất $+$
Biến kiểm soát
3 IGR Tăng trưởng thu nhập $(\text{Thu nhập}t - \text{Thu nhập}{t-1}) / \text{Thu nhập}_{t-1}$ $+$
4 TLA Quy mô tín dụng Dư nợ cho vay / Tổng tài sản $+$
5 SIZE Quy mô ngân hàng Logarit tự nhiên của Tổng tài sản ($\text{Log}(\text{Tổng tài sản})$) $+$
6 ROE Lợi nhuận trên vốn CSH Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu $+$
7 LLP Tỷ lệ dự phòng rủi ro $(\text{Dự phòng rủi ro tín dụng} + \text{Thu nhập lãi thuần}) / \text{Tổng dư nợ}$ $+/-$
8 CAP Quy mô vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản $+$
9 LEV Đòn bẩy tài chính Dư nợ cho vay / Tổng vốn chủ sở hữu $-$
10 LDR Tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi Dư nợ cho vay / Tổng tiền gửi $-$

Mô hình hồi quy thực nghiệm

Mô hình kinh tế lượng tổng quát được xác lập như sau:

$$\text{Zscore}{it} = \beta_0 + \beta_1 \text{CCT}{it} + \beta_2 \text{IGR}{it} + \beta_3 \text{TLA}{it} + \beta_4 \text{SIZE}{it} + \beta_5 \text{ROE}{it} + \beta_6 \text{LLP}{it} + \beta_7 \text{CAP}{it} + \beta_8 \text{LEV}{it} + \beta_9 \text{LDR}{it} + e_{it}$$

Phương pháp nghiên cứu định lượng và nguồn dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật kinh tế lượng trên dữ liệu bảng (panel data) thông qua phần mềm Stata 14 với quy trình xử lý đa bước:

  1. Thực hiện hồi quy Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
  2. Sử dụng kiểm định F để lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM; kiểm định Breusch - Pagan Lagrangian Multiplier để chọn giữa Pooled OLS và REM; kiểm định Hausman để chọn giữa FEM và REM.
  3. Thực hiện kiểm định khuyết tật mô hình: Kiểm định đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai (VIF); kiểm định phương sai sai số thay đổi bằng kiểm định Wald; kiểm định hiện tượng tự tương quan qua kiểm định Wooldridge. Trường hợp tồn tại khuyết tật, phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) được áp dụng.
  4. Để giải quyết triệt để hiện tượng nội sinh (endogeneity) phát sinh do mối quan hệ nhân quả hai chiều hoặc biến trễ của biến phụ thuộc, tác giả áp dụng phương pháp ước lượng Moment tổng quát hệ thống (System - GMM / SGMM) của Blundell & Bond (1998). Tính vững của ước lượng SGMM được kiểm chứng qua kiểm định Sargan (độ tin cậy của các biến công cụ ngoại sinh) và kiểm định Arellano - Bond (kiểm tra không có tự tương quan chuỗi bậc hai AR(2)).

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán và báo cáo thường niên giai đoạn 2011–2021 của 28 NHTM Việt Nam. Các chỉ tiêu bổ trợ được trích xuất từ Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Tổng cục Thống kê Việt Nam (TCTK). Bộ dữ liệu cấu thành dạng bảng không cân bằng gồm 278 quan sát.


Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Chương 1 thiết lập tổng thể cấu trúc nghiên cứu:

  • Trình bày lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ các đợt biến động và tái cơ cấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam sau giai đoạn suy giảm năm 2012 và đợt tái cấu trúc 2014–2018.
  • Xác định mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu.
  • Xác định phạm vi đối tượng khảo sát gồm 28 NHTM Việt Nam giai đoạn 2011–2021.
  • Phác thảo phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, định hướng ước lượng mô hình bảng bằng SGMM và cấu trúc đề tài gồm 5 chương.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU TẬP TRUNG ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH NGÂN HÀNG

Chương 2 tổng thuật hệ thống lý thuyết và y văn thực nghiệm:

  • Cơ sở lý thuyết về sở hữu tập trung: Phân tích các định nghĩa của Pedersen & Thomsen (1999), Rokwaro (2013), Wen (2013), Võ Đại Thành (2021); thảo luận các phương pháp đo lường sở hữu tập trung gồm LTOP6 của Kim & Rhee (2000), TOP5 của Kiruri (2013), TOP3 của Dong và cộng sự (2014) và tỷ lệ của 01 cổ đông lớn nhất của Agusman và cộng sự (2014).
  • Cơ sở lý thuyết về ổn định ngân hàng: Khái quát định nghĩa ổn định tài chính của Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ, Đức, Úc, Anh, ECB và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; tổng hợp quan điểm của Crockett (1997), Brunnermeier và cộng sự (2009), Nguyễn Thị Như Quỳnh (2021). Thảo luận 4 cách đo lường độ ổn định: chỉ số Zscore, chỉ số tháo chạy khỏi ngân hàng (run) của Ngalawa và cộng sự (2016), độ biến động tăng trưởng tiền gửi của Neaime & Gaysset (2018) và tỷ lệ nợ xấu.
  • Các lý thuyết nền tảng: Phân tích bản chất của Lý thuyết quá lớn để sụp đổ, Lý thuyết cấu trúc hiệu quả và Lý thuyết người đại diện.
  • Lược khảo thực nghiệm: Đánh giá 18 công trình quốc tế (Dong và cộng sự, 2014; Barry và cộng sự, 2011; Laeven & Levine, 2009; Berger và cộng sự, 2009; Shahzad IJAZ và cộng sự, 2020...) và 9 công trình trong nước (Võ Xuân Vinh & Mai Xuân Đức, 2020; Phạm Thúy Tú & Đào Lê Kiều Oanh, 2021; Lê Ngọc Quỳnh Anh và cộng sự, 2020; Nguyễn Đức Trường và cộng sự, 2018...). Tổng hợp bảng 2.1 làm căn cứ đề xuất khung biến nghiên cứu.

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 3 chi tiết hóa quy trình kiểm định kinh tế lượng:

  • Xây dựng mô hình hồi quy đa biến giữa Zscore với biến giải thích CCT và 8 biến kiểm soát vi mô.
  • Thiết lập quy trình 7 bước: Lược khảo lý thuyết $\rightarrow$ Xác định mục tiêu/phạm vi $\rightarrow$ Xây dựng mô hình $\rightarrow$ Thu thập/xử lý dữ liệu $\rightarrow$ Thống kê mô tả $\rightarrow$ Ước lượng OLS/FEM/REM/SGMM $\rightarrow$ Kiểm định khuyết tật và thảo luận.
  • Định nghĩa cách tính toán cụ thể cho 10 biến số kinh tế lượng và giải trình tính ưu việt của phương pháp SGMM (Blundell & Bond, 1998) trong việc xử lý nội sinh bằng sai phân bậc nhất và biến trễ công cụ so với DGMM của Arellano & Bond (1991).
  • Trình bày mẫu dữ liệu 28 NHTM với 278 quan sát bảng không cân bằng.

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu thống kê, phân tích tương quan và kết quả ước lượng:

  • Thống kê mô tả (Bảng 4.1): Mẫu nghiên cứu gồm 278 quan sát của 28 ngân hàng.
Biến Số quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Ghi chú cực trị
Zscore 278 3,9266 0,9025 1,1592 6,3202 Thấp nhất: TPB (2013); Cao nhất: SCB (2015)
CCT 278 0,6609 0,1519 0,3488 0,9745 Thấp nhất: TCB (2017); Cao nhất: BAB (2012)
IGR 278 0,1513 0,2698 -0,4501 1,3785 Thấp nhất: VIB (2013); Cao nhất: CTG (2021)
TLA 278 0,5590 0,1158 0,2162 0,7475 Thấp nhất: SSB (2012); Cao nhất: CTG (2020)
SIZE 278 8,0769 0,4854 7,1718 9,1851 Thấp nhất: SGB (2012); Cao nhất: CTG (2021)
ROE 278 0,0919 0,0662 0,0003 0,2682 Thấp nhất: NVB (2020); Cao nhất: ACB (2011)
LLP 278 0,0610 0,0268 0,0116 0,1753 Thấp nhất: HDB; Cao nhất: VPB (2019)
CAP 278 0,0898 0,0370 0,0269 0,2383 Thấp nhất: SCB (2020); Cao nhất: SGB (2012)
LEV 278 7,2044 3,2002 1,8049 20,3569 Thấp nhất: TPB (2012); Cao nhất: SCB (2020)
LDR 278 0,8581 0,1690 0,3633 1,3960 Thấp nhất: MSB (2014); Cao nhất: OCB (2011)
  • Phân tích hệ số tương quan (Bảng 4.2): Hệ số tương quan giữa Zscore và CCT là $0,0954$ thể hiện tương quan dương. Hệ số giữa Zscore và IGR là $0,0032$; giữa Zscore và TLA là $0,0972$; giữa Zscore và SIZE là $0,1049$; giữa Zscore và LEV là $0,2364$. Các biến tương quan âm với Zscore gồm ROE ($-0,2581$), LLP ($-0,2306$), CAP ($-0,1655$), LDR ($-0,0174$). Toàn bộ hệ số tương quan giữa các cặp biến độc lập đều nhỏ hơn $0,80$, loại trừ nguy cơ đa cộng tuyến nghiêm trọng.
  • Kết quả ước lượng: Sau khi kiểm tra các khuyết tật của mô hình tĩnh (OLS, FEM, REM) và hồi quy FGLS, mô hình System - GMM được lựa chọn để đưa ra các ước lượng vững.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Chương 5 đúc kết kết quả nghiên cứu và đề xuất các nhóm hàm ý:

  • Tổng hợp các kết quả thực nghiệm đạt được từ mô hình SGMM.
  • Đề xuất hàm ý chính sách đối với Ngân hàng Nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý về tỷ lệ sở hữu và tăng cường giám sát an toàn hệ thống.
  • Đề xuất giải pháp đối với các NHTM nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, cân đối đòn bẩy tài chính và kiểm soát chất lượng sinh lời.
  • Nêu rõ các giới hạn về dữ liệu của đề tài và mở ra các hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Kết quả hồi quy chính từ phương pháp System - GMM

Kết quả ước lượng SGMM đối với 28 NHTM Việt Nam giai đoạn 2011–2021 ghi nhận:

Biến số Chiều hướng tác động Mức ý nghĩa thống kê Diễn giải thực nghiệm theo tác giả
CCT Cùng chiều ($+$) 1% Sở hữu tập trung gia tăng giúp tăng cường sự ổn định ngân hàng. Cổ đông lớn có quyền kiểm soát cao thúc đẩy giám sát thận trọng.
SIZE Cùng chiều ($+$) 5% Quy mô tổng tài sản lớn hỗ trợ tăng cường mức độ ổn định tài chính nhờ năng lực đa dạng hóa danh mục tài sản.
LDR Cùng chiều ($+$) 5% Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi tác động tích cực đến mức độ an toàn và ổn định của NHTM trong mẫu nghiên cứu.
ROE Ngược chiều ($-$) 5% Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tác động làm giảm độ ổn định; việc theo đuổi lợi nhuận cao ngắn hạn làm gia tăng rủi ro.
CAP Ngược chiều ($-$) 5% Quy mô vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản tác động nghịch chiều đến Zscore tại mức ý nghĩa 5%.
LEV Ngược chiều ($-$) 5% Đòn bẩy tài chính cao làm gia tăng rủi ro kiệt quệ tài chính, tác động tiêu cực đến sự ổn định ngân hàng.
LLP, IGR, TLA Không xác định Không có ý nghĩa Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ lệ tăng trưởng thu nhập và quy mô tín dụng không có ý nghĩa thống kê trong mô hình.

Đóng góp của luận văn

  1. Về mặt học thuật: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm giải quyết sự bất đồng giữa các nghiên cứu trước đây tại thị trường ngân hàng Việt Nam. Khác với kết luận của Võ Xuân Vinh & Mai Xuân Đức (2020), nghiên cứu này chứng minh sở hữu tập trung tác động tích cực đến độ ổn định, phù hợp với phát hiện quốc tế của Dong và cộng sự (2014) và Barry và cộng sự (2011). Việc áp dụng kỹ thuật ước lượng System - GMM (Blundell & Bond, 1998) giúp khắc phục triệt để hiện tượng nội sinh và tự tương quan, mang lại độ tin cậy thống kê cao hơn các mô hình tĩnh.
  2. Về mặt thực tiễn quản trị: Cung cấp cơ sở định lượng để các nhà điều hành NHTM đánh giá mức độ ảnh hưởng của cấu trúc cổ đông đến khả năng kháng cự rủi ro; hỗ trợ kiểm soát mức đòn bẩy tài chính (LEV) và cân đối giữa mục tiêu tỷ suất sinh lời (ROE) với an toàn hệ thống.
  3. Về mặt hoạch định chính sách: Cung cấp thông tin thực chứng để Ngân hàng Nhà nước đánh giá hiệu quả của các chính sách tái cơ cấu, sáp nhập ngân hàng, quản lý tỷ lệ sở hữu cổ đông chi phối nhằm ổn định thị trường tài chính quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung văn bản được tác giả trình bày:

  • Hạn chế về cỡ mẫu và tính cân bằng của dữ liệu: Mặc dù hệ thống NHTMCP Việt Nam có 31 ngân hàng tại thời điểm nghiên cứu, tác giả chỉ thu thập được số liệu của 28 ngân hàng do một số ngân hàng không công bố đầy đủ thông tin báo cáo tài chính kiểm toán và báo cáo thường niên xuyên suốt giai đoạn 2011–2021. Điều này dẫn đến việc bộ dữ liệu bảng thu được là dữ liệu không cân bằng (278 quan sát thay vì 308 quan sát lý thuyết).
  • Hạn chế về chỉ tiêu đo lường sở hữu: Nghiên cứu chỉ tập trung đo lường sở hữu tập trung thông qua tỷ lệ sở hữu của 01 cổ đông lớn nhất, chưa phân tách chi tiết tác động của từng loại hình cổ đông chi phối (cổ đông nhà nước, cổ đông nước ngoài, tổ chức hay cá nhân/gia đình).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả định hướng các nghiên cứu sau này cần mở rộng chuỗi thời gian, bổ sung đầy đủ các ngân hàng còn lại khi có dữ liệu công bố hoàn chỉnh; đồng thời xem xét thêm các biến cấu trúc sở hữu đa tầng, biến tương tác giữa sở hữu với năng lực cạnh tranh và các chỉ số kinh tế vĩ mô để đánh giá toàn diện hơn về sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

Giá trị tham khảo

Luận văn có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng và lĩnh vực sau:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm định lượng, quy trình xây dựng biến Zscore từ báo cáo tài chính và ứng dụng phần mềm Stata để xử lý dữ liệu bảng động.
  • Nhà nghiên cứu kinh tế lượng ứng dụng: Toàn bộ Chương 3 và Chương 4 cung cấp quy trình kiểm định khuyết tật mô hình (VIF, kiểm định F, kiểm định Hausman, kiểm định Wald, Wooldridge) và các bước chạy mô hình System - GMM (SGMM) xử lý nội sinh kèm các kiểm định Sargan và Arellano - Bond (AR1, AR2).
  • Ban điều hành và bộ phận quản trị rủi ro tại các NHTM: Tham khảo cơ sở thực nghiệm về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính (LEV), tỷ suất lợi nhuận (ROE) với mức độ ổn định để thiết lập các ngưỡng an toàn hoạt động nội bộ.
  • Cơ quan quản lý (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam): Cung cấp thêm góc nhìn thực chứng về tác động của cấu trúc cổ đông lớn trong việc giám sát quản trị ngân hàng, phục vụ công tác ban hành chính sách quản lý tỷ lệ sở hữu cổ phần tại các tổ chức tín dụng.

Câu hỏi thường gặp

1. Sở hữu tập trung trong khóa luận được đo lường bằng chỉ tiêu nào và giá trị trung bình tại 28 NHTM Việt Nam giai đoạn 2011–2021 là bao nhiêu?

Trong mô hình thực nghiệm, tác giả sử dụng tỷ lệ sở hữu của 01 cổ đông lớn nhất để đại diện cho sở hữu tập trung (ký hiệu là CCT), kế thừa phương pháp của Agusman và cộng sự (2014) cùng Wen & Jia (2010). Kết quả thống kê mô tả trên 278 quan sát cho thấy mức độ sở hữu tập trung trung bình của các NHTM Việt Nam đạt $66,09%$ (độ lệch chuẩn $15,19%$). Ngân hàng có tỷ lệ sở hữu tập trung lớn nhất là Ngân hàng Bắc Á (BAB) năm 2012 với $97,45%$; thấp nhất là Ngân hàng Techcombank (TCB) năm 2017 với $34,88%$.

2. Sự ổn định ngân hàng được tính toán dựa trên công thức nào?

Tác giả đo lường mức độ ổn định tài chính thông qua chỉ số Zscore theo công thức của Boyd & Runkle (1993): $\text{Zscore} = (\text{ROA} + \text{EQA}) / \sigma\text{ROA}$. Trong đó, ROA là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, EQA là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, và $\sigma\text{ROA}$ là độ lệch chuẩn của ROA. Chỉ số này phản ánh khoảng cách đến nguy cơ mất khả năng thanh toán; giá trị trung bình trong mẫu nghiên cứu đạt $3,9266$ (dao động từ $1,1592$ tại TPB năm 2013 đến $6,3202$ tại SCB năm 2015).

3. Tại sao tác giả phải sử dụng phương pháp ước lượng Moment tổng quát hệ thống (System - GMM)?

Mô hình nghiên cứu dữ liệu bảng ngân hàng thường tồn tại hiện tượng nội sinh (do mối quan hệ hai chiều giữa các chỉ số tài chính hoặc do sự xuất hiện của biến trễ), hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi khiến các ước lượng Pooled OLS, FEM hay REM bị chệch và không nhất quán. Phương pháp GMM sai phân (DGMM) của Arellano & Bond (1991) bộc lộ nhược điểm khi mẫu có chuỗi thời gian ngắn ($T=11$) do biến công cụ yếu. Vì vậy, tác giả lựa chọn phương pháp System - GMM (SGMM) của Blundell & Bond (1998) kết hợp hệ phương trình sai phân và mức, sử dụng biến trễ làm công cụ để triệt tiêu hiện tượng nội sinh và cho ra ước lượng vững.

4. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những yếu tố nào tác động tiêu cực (ngược chiều) đến sự ổn định ngân hàng?

Theo kết quả hồi quy SGMM, có 3 biến kiểm soát tác động ngược chiều đến sự ổn định ngân hàng (Zscore) tại mức ý nghĩa thống kê $5%$:

  • ROE (Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu): Tác động tiêu cực do việc chạy theo lợi nhuận cao thường đi kèm với việc mở rộng hoạt động vào các tài sản rủi ro.
  • CAP (Quy mô vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản): Ghi nhận hệ số tác động âm đến Zscore.
  • LEV (Đòn bẩy tài chính - Dư nợ cho vay trên tổng vốn chủ sở hữu): Tác động tiêu cực đến độ ổn định; hệ số đòn bẩy càng lớn thì ngân hàng càng dễ bị tổn thương trước các cú sốc thanh toán.

5. Những biến số nào trong mô hình không có ý nghĩa thống kê?

Kết quả hồi quy mô hình SGMM xác định có 3 biến kiểm soát không đạt mức ý nghĩa thống kê, bao gồm:

  • Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và thu nhập lãi thuần (LLP).
  • Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập (IGR).
  • Quy mô tín dụng trên tổng tài sản (TLA).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị My Ly đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu xác định tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định của 28 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011–2021. Bằng phương pháp ước lượng kinh tế lượng bảng động System - GMM, công trình chứng minh sở hữu tập trung có tác động cùng chiều đến sự ổn định ngân hàng ở mức ý nghĩa $1%$, đồng thời làm rõ vai trò tích cực của quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi và rủi ro từ đòn bẩy tài chính cao. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm đáng tin cậy cho công tác quản trị rủi ro nội bộ tại các ngân hàng thương mại và hỗ trợ định hướng điều hành an toàn hệ thống của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.