Chương 1: Mở đầu. Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và những đóng góp của nghiên cứu trong thực tế và trong khoa học. Chương 2: Lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm. Nội dung chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về yếu tố rủi ro tín dụng ảnh hưởng đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam: trình bày cơ sở lý thuyết làm nền tảng cho lý luận của nghiên cứu này, đồng thời tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu liên quan trước đây để làm cơ sở thực nghiệm của nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu, phương pháp xử lý số liệu và phương pháp định lượng để ước lượng mức độ tác động của yếu tố rủi ro tín dụng ảnh hưởng đến ROA của các NHTMCP được niêm yết trên sở chứng khoán Việt Nam. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày các kết quả từ mô hình ước lượng đồng thời thảo luận kết quả đạt được.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Nội dung chương 5 trình bày một cách tóm tắt kết quả nghiên cứu trên cơ sở trả lời các câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra ở đầu bài, sau đó đưa ra các khuyến nghị về các chính sách tín dụng để các nhà quản trị ngân hàng thực hiện góp phần làm giảm mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và tối đa hóa lợi nhuận của 17 NHTMCP được niêm yết trên sở chứng khoán Việt Nam và xây dựng một hệ thống NHTMCP tại Việt Nam hoạt động ngày càng hiệu quả và phát triển bền vững. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU 2. RỦI RO TÍN DỤNG 2.1 Khái niệm Nghiệp vụ tín dụng là hoạt động cơ bản của ngân hàng, đem lại nguồn lợi nhuận chính cho ngân hàng thông qua hình thức tái phân bổ nguồn vốn từ người tiết kiệm – những người có nguồn thặng dư vốn tạm thời, tới người đi vay – những người đang có nhu cầu về vốn và có thể sử dụng vốn một cách tốt hơn.
Do đó, nguyên tắc đầu tiên quan trọng của hoạt động này là ngân hàng phải thu được nguồn vốn vay hoàn trả cả gốc và lãi để ngân hàng sử dụng nguồn tiền này và hoàn trả lại tiền gửi tiết kiệm và lãi khi đến hạn cho người gửi tiền. Trong trường hợp nếu người vay không thực hiện nghĩa vụ nợ, ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì hoạt động kinh doanh của mình. Cho nên có thể nói, tín dụng là khoản mục sinh lời chủ yếu của ngân hàng tuy nhiên nó cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất cho ngành ngân hàng. Theo Arunkumar và Kotreshwar (2005) chỉ ra rằng rủi ro tín dụng gây ra 70% rủi ro cho ngân hàng nói chung trong khi 30% còn lại gây ra bởi rủi ro thị trường và rủi ro hệ thống.
Và cho đến nay đã có nhiều tiếp cận khác về khái niệm rủi ro tín dụng. Do đó rủi ro tín dụng có thể được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng là là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, có thể là trả chậm, không trả được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn sau khi được cấp các khoản tín dụng,. và có thể dẫn đến thất thoát tài sản của ngân hàng” (Thông tư 02/2013/TT- NHNN do NHNN Việt Nam ban hành).2 Các hình thức của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng Không thu được Không thu Không thu được Không thu được lãi đúng hạn được vốn đủ lãi đủ vốn cho vay đúng hạn Hình 2. Các hình thức rủi ro tín dụng Nguồn: Trần Huy Hoàng (2010) • Không thu được lãi đúng hạn: ngân hàng đối mặt với nguy cơ rủi ro thấp nhất khi người vay không trả được lãi đúng hạn, khi đó ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh • Không thu được vốn đúng hạn: ngân hàng lúc này phát sinh khoản nợ quá hạn, tình hình dường như nghiêm trọng hơn do một phần vốn vay lớn bị mất.
Tuy nhiên đây chưa phải là khoản mất mát hoàn toàn của ngân hàng bởi vì có thể lý do nào đó mà tiến độ thực hiện nghĩa vụ nợ của khách hàng bị chậm hơn và sẽ trả nợ sau so với thời hạn cam kết. • Không thu được đủ lãi: tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã kém hiệu quả đến mức không thể trả đủ lãi cho ngân hàng. Khi đó, Ngân hàng phải chuyển khoản lãi này vào khoản mục lãi treo đóng băng và thậm chí có thể phải thực hiện miễn giảm lãi cho khách hàng. • Không thu đủ vốn cho vay: lúc này ngân hàng đối mặt với rủi ro tín dụng ở mức độ cao nhất vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi và ngân hàng đã bị mất vốn.
Ngân hàng có thể xem xét để xóa nợ cho khách hàng nếu như khách hàng hội đủ các điều kiện để được xóa nợ theo quy định và coi như khép lại một hợp đồng tín dụng không có hiệu quả. Dự phòng rủi ro tín dụng Dự phòng rủi ro tín dụng là khoản tổn thất tiềm ẩn mà một ngân hàng có thể gặp phải do rủi ro tín dụng. Dự phòng rủi ro tín dụng có thể được coi là một khoản chi phí trên báo cáo tài chính của ngân hàng vì các khoản lỗ từ nợ xấu do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ nợ theo cam kết. Chi phí này được tính theo dư nợ gốc và được hạch toán vào chi phí hoạt động của các tổ chức tín dụng.
Việc xác định mức trích lập DPRRTD được căn cứ vào việc phân loại nợ tại ngân hàng. Các ngân hàng, tổ chức tín dụng dựa trên các tiêu chuẩn định tính và định lượng để đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay và các cam kết ngoại bảng, từ đó phân loại các khoản nợ vào các nhóm nợ thích hợp. Sau khi đã phân loại các khoản vay thành 5 nhóm nợ khác nhau, các ngân hàng thực hiện trích lập dự phòng chung và dự phòng cụ thể đối với rủi ro tín dụng. Tại Việt Nam, theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, chi phí trích lập dự phòng chung được xác định bằng 0.75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 trừ tiền gửi và cho vay liên ngân hàng; tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau: (i) Nhóm 1: 0% (ii) Nhóm 2: 5% (iii) Nhóm 3: 20% (iv) Nhóm 4: 50% (v) Nhóm 5: 100% Ngoài ra chi phí trích lập dự phòng cụ thể phải trích đối với từng khách hàng được tính theo công thức sau: R = (A – C) x r Trong đó: R: tổng số tiển dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng; A: giá trị của khoản nợ; C: giá trị của tài sản đảm bảo; r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể.
LỢI NHUẬN NGÂN HÀNG 2. Khái niệm Lợi nhuận là khoản chênh lệch được xác định bởi tổng doanh thu phát sinh trong kỳ trừ đi tổng các khoản chi phí về nghiệp vụ kinh doanh phát sinh trong kỳ. Mục tiêu chính của mọi doanh nghiệp đều là tạo ra lợi nhuận, do đó lợi nhuận sẽ là thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ làm ăn có lời hay là thua lỗ. Có 3 loại lợi nhuận chính: lợi nhuận gộp, lợi nhuận hoạt động và lợi nhuận ròng – tất cả các chỉ tiêu này có thể thu thập được trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp.
Mỗi loại lợi nhuận có thể cung cấp cho các nhà đầu tư nhiều thông tin về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt trong việc so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành trong cùng một khoảng thời gian nhất định. Các chỉ tiêu đo lường lợi nhuận Lợi nhuận của ngân hàng có thể được xác định thông qua 2 chỉ tiêu tuyệt đối: lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế. Lợi nhuận trước thuế được tính bằng tổng thu nhập phát sinh trong kỳ trừ đi tổng chi phí phát sinh trong kỳ. Lợi nhuận sau thuế được tính bằng lợi nhuận trước thuế sau khi trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành.
Lợi nhuận của ngân hàng còn được thể hiện thông qua tỷ suất sinh lời. Tỷ suất sinh lời của ngân hàng có thể được đánh giá bởi các chỉ số sau. • Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA – Returning on Assets) là tỷ lệ đo lường thu nhập ròng được tạo ra bởi tổng tài sản trong một giai đoạn bằng cách so sánh thu nhập ròng với tổng tài sản trung bình. ROA đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng.
Công thức tính tỷ số này là: Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản 10 Chỉ tiêu này đo lường mức độ hiệu quả đầu tư của ngân hàng có thể kiếm được lợi tức từ khoản đầu tư vào tài sản. Vì tất cả các tài sản đều được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu hoặc nợ, nên hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA giúp các nhà quản trị cũng như các nhà đầu tư thấy được khả năng bao quát của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập ròng từ tài sản. ROA giúp ta xác định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, tỷ lệ ROA càng cao thì càng tốt vì cho thấy rằng ngân hàng đang quản lý tài sản hiệu quả hơn và kiếm được lợi nhuận cao hơn trên lượng đầu tư ít hơn.
Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới chi phí lãi vay mà doanh nghiệp phải trả cho các khoản vay nợ. Nếu một doanh nghiệp không kiếm được nhiều hơn số tiền mà chi cho các hoạt động đầu tư, đó không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí lãi vay thì có nghĩa là doanh nghiệp đang bỏ túi một món hời. • Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Returning on Equity) là tỷ số quan trọng đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn cổ đông thường.