CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO THANH KHOẢN VÀ ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NHTM 1. Rủi ro thanh khoản 1. Khái niệm rủi ro thanh khoản Cho tới hiện tại, các tổ chức kinh tế và các nhà kinh tế học đưa ra rất nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về rủi ro thanh khoản, tuy nhiên có thể kể đến một số quan điểm được công nhận và sử dụng rộng rãi sau: Tổng kiểm toán tiền tệ (2001) định nghĩa rằng rủi ro thanh khoản là một rủi ro phát sinh từ việc mất khả năng đáp ứng được các nghĩa vụ khi chúng đến hạn mà phải gánh chịu các tổn thất không chấp nhận được”. Rủi ro này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến cả lợi nhuận và vốn của NH.
Do đó, đây trở thành ưu tiên hàng đầu của ban quản trị NH để đảm bảo sẵn có đủ nguồn tiền để đáp ứng các yêu cầu trong tương lai của các nhà cung cấp và người vay, với chi phí hợp lý. Một cách dễ hiểu hơn, rủi ro thanh khoản có thể được định nghĩa là rủi ro không thể phát mại một vị thế kịp thời với một giá cả hợp lý (Muranaga và Ohsawa, 2002). Có hai ý chính của rủi ro thanh khoản được đề cập trong định nghĩa này: (1) phát mại các tài sản khi cần thiết; và (2) với một giá trị thị trường hợp lý. NH phải đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu họ không thanh lý các tài sản của mình với một giá cả hợp lý.
Việc định giá vẫn còn không chắc chắn do điều kiện bán hàng còn nhiều yếu tố phức tạp khi cần phải thanh lý gấp bất kỳ tài sản nào của NH. Điều này có thể dẫn đến các tổn thất và giảm đáng kể lợi nhuận. Rủi ro thanh khoản không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NH mà còn ảnh hưởng đến danh tiếng của NH (Jenkinson, 2008). Một NH có thể mất niềm tin của người gửi tiền nếu tiền không được cung cấp kịp thời cho họ.
Danh tiếng của NH có thể bị đe dọa trong tình huống này. Ngoài ra, vị thế thanh khoản kém có thể gây ra hình phạt từ cơ quan quản lý. Vì vậy, điều bắt buộc đối với NH là phải duy trì 14 sự sắp xếp thanh khoản hợp lý. Rủi ro thanh khoản đã trở thành mối lo ngại và thách thức nghiêm trọng đối với các NH thời kỳ hiện đại (Tổng kiểm toán tiền tệ, 2001).
Theo “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của Basel (2008), rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hằng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính. Duttweiler (2011) cho rằng thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn. Dưới góc độ NH, thanh khoản là khả năng NH đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Khi tình trạng thiếu thanh khoản kéo dài sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản của NH.
Gomes và Khan (2011) nghiên cứu về tăng cường quản lý rủi ro thanh khoản NH thông qua các tiêu chuẩn quy định về quản lý rủi ro thanh khoản của Basel III đã làm rõ hơn nữa về về rủi ro thanh khoản tài trợ và rủi ro thanh khoản thị trường. Họ cho rằng rủi ro thanh khoản tài trợ như một sự bất lực của một công ty để tạo ra quỹ tài trợ nhằm đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong thời gian ngắn. Trạng thái thanh khoản của một NH được xác định chủ yếu bởi lượng nắm giữ tiền mặt và các tài sản sẵn có khác, cũng như cấu trúc nguồn tài trợ và số lượng, hình thức nợ tiềm tàng. Họ giải thích thêm rủi ro thanh khoản của thị trường là khả năng một NH thực hiện các giao dịch trong thị trường tài chính mà không gây ra một sự chuyển dịch đáng kể trong giá.
Trên một nghiên cứu khác về rủi ro thanh khoản của thị trường, Gomes và Khan (2011) một lần nữa đã khẳng định rằng sự tương tác giữa hai loại rủi ro thanh khoản có thể dẫn đến những hậu quả thanh khoản nghiêm trọng, khi rủi ro thanh khoản tài trợ gia tăng sẽ làm giảm tính thanh khoản của thị trường và lần lượt làm suy giảm hơn nữa trong thanh khoản tài trợ. Như vậy, đánh giá một cách chung nhất, rủi ro thanh khoản có thể được hiểu là rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán ở một thời điểm nào đó; hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NH. Rủi ro này có thể đến từ hoạt động bên nợ hoặc bên có, hoặc từ hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản của NHTM. 15 Cụ thể: Rủi ro thanh khoản đến từ bên tài sản nợ có thể phát sinh bất cứ lúc nào khi người gửi tiền rút tiền trước hạn và cả khi đến hạn, nhưng NHTM không sẵn có nguồn vốn để thanh toán, để chi trả.
Với một lượng tiền gửi được yêu cầu rút ra lớn và đột ngột buộc NHTM phải đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ, phải huy động vốn đột xuất với chi phí vượt trội, hoặc bán bớt tài sản để chuyển hoá thành vốn khả dụng đáp ứng nhu cầu chi trả. Khi đó, để đáp ứng nhu cầu ngay lập tức NHTM có thể phải bán tài sản với giá thấp hơn thị trường rất nhiều để có lượng vốn khả dụng cần thiết. Rủi ro thanh khoản từ bên tài sản có chủ yếu phát sinh liên quan đến việc thực hiện các cam kết tín dụng, cho vay. Một cam kết tín dụng cho phép người vay vốn tiến hành rút tiền bất cứ lúc nào trong thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Khi một người vay yêu cầu NHTM thực hiện cam kết tín dụng thì NH phải đảm bảo đủ tiền ngay lập tức để đáp ứng nhu cầu của KH nếu không NH sẽ phải đối mặt với uy tín trên thương trường, thậm chí đối mặt với mất khả năng thanh toán. Rủi ro thanh khoản từ hoạt động ngoại bảng: Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ tài chính phái sinh, rủi ro thanh khoản đến từ hoạt động ngoại bảng cũng ngày càng tăng. Khi mà các nghĩa vụ thanh toán bất thường xảy ra như cam kết bảo lãnh, nghĩa vụ thanh toán các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi hay hợp đồng quyền chọn. Các hợp đồng đó đến hạn thì sẽ phát sinh nhu cầu thanh khoản.
Khi đó, NHTM có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu không có kế hoạch chuẩn bị nguồn thanh khoản kịp thời, không có những tài sản nhanh chóng hay dễ dàng chuyển thành tiền, những công cụ có thể giao dịch trên thị trường tiền tệ. Các lý thuyết về rủi ro thanh khoản 1. Lý thuyết ưa thích thanh khoản (Liquidity Preference Theory) Theo Lý thuyết ưa thích thanh khoản của Keynes (Keynes Liquidity Preference Theory), nắm giữ tiền không vì mục tiêu lợi nhuận và nếu muốn sinh lời thì phải đầu tư, chẳng hạn như mua chứng khoán kinh doanh. Tiền là yếu tố tài sản có tính thanh khoản cao nhất nên việc nắm giữ nhiều tiền sẽ có lợi là tăng thanh khoản, tuy nhiên mất đi cơ hội tạo ra lợi nhuận và do đó, bất kỳ chủ thể nào cũng phải chấp nhận sự đánh đổi giữa mục tiêu thanh khoản với mục tiêu lợi nhuận.
Muốn đạt lợi 16 nhuận cao thì buộc phải giảm bớt tài sản thanh khoản để đầu tư vào các tài sản ít thanh khoản hơn, và ngược lại. Lý thuyết ưa thích thanh khoản sau đó được đề xuất bởi nhà kinh tế học người Anh tên Minsky, H. Minsky quan sát thấy rằng giả sử các yếu tố khác không đổi, mọi người thích nắm giữ tiền mặt hơn bất kỳ loại tài sản nào và họ sẽ yêu cầu một khoản chi phí bù đắp cho việc nắm giữ các tài sản như cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản. Phần bù thanh khoản càng cao nếu tính thanh khoản của tài sản càng thấp.
Lý thuyết cũng giải thích nguyên nhân tại sao các NH yêu cầu phần bù đối với các khoản cho vay và phần bù này chính là lãi suất. Lãi suất là một yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng của NH thương mại. Các NH sẽ tính lãi suất cao hơn đối với các khoản vay có khả năng vỡ nợ cao hơn. Dựa trên nghiên cứu về chi phí phá sản dự kiến (Expected bankruptcy costs) của Berger (1995) thì những NHTM có lợi nhuận thấp thường sẽ tập trung vào mục đích tăng lợi nhuận và do đó họ sẽ tập trung gia tăng đầu tư vào các danh mục có rủi ro cao hơn, kết quả là giảm tỷ trọng tài sản thanh khoản và dẫn đến thanh khoản giảm (Nguyễn Thị Mỹ Linh, 2016).
Ngược lại, các NH có lợi nhuận cao thường chú trọng đến sự an toàn và hạn chế tăng trưởng tín dụng quá mức và tăng cường tài sản thanh khoán nhiều hơn để tránh rủi ro vỡ nợ (Bunda và Desquilbet, 2008). Lý thuyết khả năng thay đổi (The Shiftability theory) Moulton (1918) đề xuất Lý thuyết khả năng thay đổi (The Shiftability theory) với gợi ý rằng các NHTM có thể phòng ngừa rủi ro thanh khoản thông qua việc nắm giữ nhiều tài sản có tính thanh khoản cao trong cơ cấu tài sản. Theo Lý thuyết này các khoản cho vay là mâu thuẫn cơ bản giải thích cho vấn đề thanh khoản. Lý thuyết này gợi ý rằng cho vay thương mại sẽ không đảm bảo thanh khoản của NHTM khi có vấn đề, yếu tố có thể đảm bảo thanh khoản là khả năng tạo ra lợi nhuận và tích lũy vốn, và mấu chốt là khả năng chuyển đổi của tài sản.
Lý thuyết này còn cho rằng các loại chứng khoán có tính thị trường cao được nắm giữ bởi NH chính là nguồn thanh khoản tuyệt vời. Quy định của Ủy ban Basel về tỷ lệ thanh khoản Các quy định của Basel III về tỷ lệ thanh khoản nhấn mạnh vào cải thiện tính thanh khoản và tính ổn định của hệ thống NH, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Các quy định này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao sự tin cậy và ổn định của hệ thống NH toàn cầu.