CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ TRONG KHUÔN KHỔ RCEP VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác động của hội nhập khu vực trong ASEAN cũng như hội nhập trong khuôn khổ RCEP đối với các nền kinh tế thành viên nói chung, và với những ngành kinh tế cụ thể nói riêng. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, có thể xem xét các công trình nghiên cứu này trên cơ sở hai nhóm nội dung như sau: Một là nhóm các nghiên cứu về tác động của hội nhập kinh tế trong khuôn khổ RCEP đối với các nền kinh tế thành viên; hai là nhóm nghiên cứu về ngành công nghiệp điện tử các nước thành viên RCEP và tác động của hội nhập kinh tế khu vực tới hoạt động của ngành. Các nghiên cứu về tác động của hội nhập kinh tế trong khuôn khổ RCEP đối với các nền kinh tế thành viên Kawasaki Kenichi (2014), trong nghiên cứu “Tầm quan trọng tương đối của các hiệp định đối tác kinh tế trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương” (The Relative Significance of EPAs in Asia Pacific), đã phân tích về tác động của các khu vực thương mại tự do trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm RCEP, Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và việc hình thành một khu vực thương mại tự do cho cả khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Nghiên cứu này tính đến cả tác động của việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan. Kết quả mô phỏng của Kawasaki cho thấy việc xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan giúp gia tăng đáng kể lợi ích của quá trình tự do hóa thương mại. Trong trường hợp của RCEP, GDP của các nền kinh tế RCEP sẽ tăng khoảng 2.7% nếu các hàng rào thuế quan được xóa bỏ hoàn toàn, và tăng tới 4.9% nếu việc xóa bỏ thế quan đi kèm với việc dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan. Các nền kinh tế thu nhập thấp trong RCEP cũng sẽ được hưởng lợi nhiều hơn từ việc dỡ bỏ thuế quan cũng như các hàng rào phi thuế quan.
Bên cạnh đó, lợi ích tiềm tàng của RCEP cũng lớn hơn đáng kể so với lợi 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ích của hiệp định đối tác chiến lược TPP cả trong các phương án mô phỏng với thuế quan cũng như với các hàng rào phi thuế quan. Việc hình thành một khu vực thương mại tự do cho tất cả các nền kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm cả các thành viên của RCEP và TPP, hứa hẹn mang lại lợi ích mà hai khu vực thương mại tự do riêng rẽ này mang lại. Kết quả cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp sử dụng các FTA trong ASEAN không cao, mặc dù quy định về tiêu chuẩn xuất xứ trong ASEAN có rất ít hạn chế. Nguyên nhân là chi phí hành chính trong việc sử dụng các FTA ở ASEAN lớn và thủ tục hành chính không hiệu quả, đặc biệt ở các quốc gia Malaysia, Philippines, và Việt Nam.
Bên cạnh đó, nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty có quy mô lao động lớn hơn có xu hướng sử dụng các FTA cao hơn, điều này cho thấy các FTA hiện tại không đem lại lợi ích bình đẳng. Ngoài ra, FTA trong các nước ASEAN dường như được sử dụng một cách chọn lọc theo từng ngành công nghiệp: ngành dệt may sử dụng FTA hiệu quả nhưng máy móc thiết bị điện, điện tử và máy móc yêu cầu tính chính xác cao không tận dụng được các FTA; và chỉ khi có sự cắt giảm đáng kể mức thuế ưu đãi trong các FTA mới có thể khuyến khích việc sử dụng FTA trong các doanh nghiệp ở những ngành công nghiệp này. Masahiro Kawai Dean và Ganeshan Wignaraja (2007) đã sử dụng mô hình Cân bằng tổng thể khả tính (CGE) thông qua Phân tích thương mại toàn cầu (GTAP) trong nghiên cứu “ASEAN+3 hay ASEAN+6: hướng đi nào cho tương lai?” (ASEAN+3 or ASEAN+6: Which Way Forward?) để đánh giá tác động của năm kịch bản FTA tại Đông Á: (1) FTA ASEAN + Trung Quốc, (2) FTA ASEAN + Hàn Quốc, (3) FTA ASEAN + Nhật Bản, (4) FTA ASEAN+3, và (5) FTA ASEAN+6. Hai kịch bản FTA quy mô Đông Á là ASEAN+3 và ASEAN+6 mang lại lợi ích lớn hơn đối với thu nhập nền kinh tế thế giới so với bất cứ kịch bản FTA ASEAN+1 nào, trong đó 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ASEAN+6 có ảnh hưởng mạnh hơn so với ASEAN+3: tạo ra 260 tỷ USD so với 214 tỷ USD trong thu nhập toàn thế giới (tính theo giá cố định năm 2001), và tạo ra 67 tỷ USD so với 62 tỷ USD trong thu nhập của các nền kinh tế ASEAN.
Thu nhập dự tính của các nước thành viên ASEAN tính theo phần trăm thay đổi từ mức thu nhập cơ sở năm 2017 cũng có biến động rất lớn theo kịch bản ASEAN+6: Thái Lan (12. Cũng sử dụng mô hình CGE và cơ sở dữ liệu GTAP, Itakura K. (2013) với nghiên cứu “Tác động của tự do hóa, tăng cường liên kết và thuận lợi hóa trong ASEAN vì một Cộng đồng Kinh tế ASEAN” (Impact of Liberalization and Improved Conectivity and Facilitation in ASEAN for the ASEAN Economic Community) đã phân tích tác động của các khu vực thương mại tự do ASEAN+1, khu vực thương mại tự do giữa Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, và RCEP. Bên cạnh việc cắt giảm thuế quan, nghiên cứu này cũng tính tới tác động của tự do hóa thương mại dịch vụ và thuận lợi hóa thương mại.
Kết quả mô phỏng cho thấy RCEP gia tăng đáng kể lợi ích của các nước thành viên so với các khu vực thương mại tự do ASEAN+1. Bên cạnh đó, tự do hóa thương mại dịch vụ cũng như phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại (logistic) cũng mang lại lợi ích đáng kể cho các nước thành viên, đặc biệt là trong các nền kinh tế thu nhập thấp trong ASEAN. Fukunaga Yoshifumi và Ikumo Isono (2013) trong nghiên cứu “Từ các FTA ASEAN+1 tới RCEP: Nghiên cứu lộ trình” (Taking ASEAN+1 FTAs towards the RCEP: A Mapping Study) đã khảo sát các khu vực thương mại tự do ASEAN+1 giữa các nước thành viên ASEAN và sáu đối tác ngoài ASEAN tham gia vào RCEP và cho thấy mức độ tự do hóa hạn chế trong các khu vực thương mại tự do ASEAN+1. Trong nhiều khu vực thương mại tự do ASEAN+1 chỉ có ít hơn 90% số dòng thuế quan chịu ràng buộc cắt giảm.
Bên cạnh đó, các khu vực thương mại tự do ASEAN+1 cũng có lịch trình cắt giảm thuế quan khác nhau với danh mục hàng hóa nhạy cảm khác nhau. Các hàng rào phi thuế quan cũng chỉ được đề cập chung chung hoặc không được đề cập đến trong nhiều khu vực thương mại tự do ASEAN+1. Mức độ tự do hóa thương mại dịch vụ cũng tương đối thấp trong nhiều khu vực thương mại tự do 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bên cạnh đó việc sử dụng các nguyên tắc xuất xứ khác nhau trong các khu vực thương mại tự do ASEAN+1 cũng làm tăng chi phí và gây khó khăn cho việc sử dụng hiệu quả các khu vực thương mại tự do.
Fukunaga và Isono (2013) cho rằng các nước thành viên RCEP cần hướng đến tự do hóa thương mại nội khối một cách toàn diện và ở mức độ cao. Bên cạnh việc cắt giảm thuế quan sâu rộng hơn, các thành viên cần dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, tự do hóa thương mại dịch vụ, xây dựng các chương trình thuận lợi hóa thương mại và áp dụng các nguyên tắc xuất xứ chung. Nghiên cứu về tác động của hội nhập kinh tế khu vực đối với nền kinh tế Việt Nam, có thể kể đến các công trình sau: Nguyen Tien Dung (2006), với nghiên cứu “Các tác động của hội nhập Đông Á đối với Việt Nam: Phân tích CGE” (Impacts of East Asian Integration on Vietnam: A CGE Analysis) đã sử dụng mô hình CGE toàn cầu để lượng hóa các tác động của hội nhập kinh tế khu vực đối với nền kinh tế Việt Nam. Phân tích chỉ ra rằng hội nhập kinh tế khu vực có tác động tích cực đến nền kinh tế Việt Nam, làm tăng sản lượng, phúc lợi và thúc đẩy xuất khẩu.
Bên cạnh việc đánh giá tác động thông qua tự do hóa thương mại, nghiên cứu còn xem xét các vấn đề về tự do hóa đầu tư. Mặc dù cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài trong vùng đang ngày càng gay gắt, Việt Nam vẫn có thể nhận được các luồng vốn lớn hơn nhờ hội nhập, đặc biệt trong trường hợp tự do hóa thương mại đi kèm với việc dỡ bỏ các rào cản đầu tư và xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi hơn. Đầu tư nước ngoài cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hiện thực hóa các lợi ích mà hội nhập khu vực mang lại. MUTRAP III (2010) trong “Báo cáo Đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do đối với kinh tế Việt Nam” đã sử dụng mô hình cân bằng tổng thể đánh giá định lượng về các FTA, mô hình lực hấp dẫn đánh giá định lượng các FTA liên quan đến Việt Nam và các phương pháp phân tích ngành đánh giá cơ hội và thách thức của FTA đối với một số ngành cụ thể.
Các kết quả mô phỏng cho thấy, nếu so sánh các FTA khác nhau, lợi ích lớn nhất mà Việt Nam thu được là từ các FTA với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, tiềm năng lớn cũng đến từ FTA với EU. Bên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cạnh đó, lợi ích ước tính thu được từ tự do hóa thương mại trong khuôn khổ từng FTA thấp hơn so với lợi ích thu được từ thương mại tự do với một khu vực FTA. Tuy nhiên, nguồn lợi đối với Việt Nam từ bất kỳ FTA nào đều phụ thuộc vào lợi thế so sánh truyền thống như sự sẵn có của lao động chi phí thấp và một số nguồn lực khá dồi dào như cao su hoặc nguồn thủy sản. Nghiên cứu cũng đề cập đến ngành CNĐT như là một trong những ngành được đặc biệt quan tâm, ngành này cho thấy tiềm năng mở rộng với sự trợ giúp của FDI dưới tác động của các FTA, tuy nhiên ngành cần xác định rõ những thách thức hiện hữu như thiết kế còn yếu, thiếu lao động lành nghề, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước không cao.
EU - MUTRAP (2015) cũng công bố “Báo cáo Đánh giá tác động của Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đối với nền kinh tế Việt Nam”.