Chương 1: Giới thiệu đề tài * Chương 2: Những nghiên cứu thực nghiệm * Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu * Chương 4: Kết quả nghiên cứu * Chương 5: Kết luận- hướng nghiên cứu tiếp theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2 : NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài: Nhiều nghiên cứu trước đây đã cho thấy mới quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lợi của công ty ở các môi trường khác nhau. Shin và Soenen (1998) sử dụng 58.985 mẫu của các công ty theo thời gian trong giai đoạn 1975-1994 để nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ mua bán ròng (net-trade cycle) - khái niệm này được sử dụng để đo lường hiệu quả của quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lợi doanh nghiệp. Trong tất cả tình huống, các tác giả tìm thấy mối quan hệ nghịch biến mạnh giữa độ dài của chu kỳ mua bán ròng và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Deloof (2003) nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý vốn lưu động và khả năng sinh lợi công ty với mẫu 1009 công ty phi tài chính lớn của Bỉ trong giai đoạn 1992- 1996.
Kết quả phân tích cho thấy rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa khả năng sinh lợi- được đo lường bằng lợi nhuận gộp và chu kỳ tiền mặt cũng như là số ngày khoản phải thu và hàng tồn kho. Tác giả thấy rằng các nhà quản lý có thể tăng khả năng sinh lợi bằng việc giảm số ngày của khoản phải thu, tồn kho và ngược lại. Ngoài ra nghiên cứu này cho thấy các công ty lớn tập trung vào quản lý tiền ngày càng nhiều hơn, với doanh thu bán hang bằng tiền mặt ít hơn, cho nợ nhiều hơn sẽ có nhiều cơ hội tăng doanh số bán hàng và càng có nhiều khách hàng hơn. Trong khi đó các công ty nhỏ tập trung vào quản lý các khoản đầu tư và ít công ty tập trung vào quản lý tín dụng.
Lazaridis và Tryfonidis (2006) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lợi doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Athens. Mẫu gồm 131 công ty niêm yết trong thời kỳ 2001-2004 được sử dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 để kiểm tra mối quan hệ này. Kết quả từ phân tích hồi quy cho thấy có ý nghĩa thống kê trong mối quan hệ giữa khả năng sinh lợi- đo lường thông qua lợi nhuận gộp và chu kỳ tiền mặt. Qua chỉ tiêu khả năng sinh lợi cho thấy cách thức quản lý vốn luân chuyển của công ty, các công ty có khả năng sinh lợi thấp thường kéo dài thời gian thanh toán cho nhà cung cấp nhằm tận dụng nguồn vốn và rút ngắn thời gian thu tiền khách hang, để vốn bằng tiền luân chuyển nhanh hơn.
Bên cạnh đó mối quan hệ nghịch biến giữa kỳ luân chuyển hang tồn kho và khả năng sinh lợi cũng cho thấy: doanh thu sụt giảm đột ngột kèm theo sự quản trị hang tồn kho yếu kém sẽ làm cho vốn bị ứ đọng. Từ những kết quả này, các tác giả cho rằng các nhà quản lý có thể có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách quản lý chu kỳ tiền mặt đúng đắn và giữ các thành phần của vốn lưu động ở mức tối ưu. Raheman và Nasr (2007) đã chọn lựa mẫu 94 công ty niêm yết Pakistani trong giai đoạn 1999-2004 để nghiên cứu tác động của các biến khác nhau về quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lợi. Từ nghiên cứu này, các tác giả thấy rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa các biến quản trị vốn lưu động bao gồm thời gian thu tiền bình quân, số ngày quay vòng tồn kho, chu kỳ tiền mặt và khả năng sinh lợi.
Ngoài ra, các tác giả cũng thấy rằng quy mô công ty- được đo lường bằng logarit tự nhiên của doanh thu- và khả năng sinh lợi có mối quan hệ đồng biến. Singh và Pandy (2008) đã nghiên cứu các thành phần của vốn lưu động và tác động của quản trị vốn lưu động đến đến khả năng sinh lợi của Hindalco Industries Limited trong giai đoạn 1990-2007. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khả năng thanh toán nhanh (current ratio), tỷ số tính lưu động (liquid ratio), tỷ số vòng quay khoản phải thu (receivables turnover ratio) và tỷ số vốn lưu động trên tổng tài sản có tác động có ý nghĩa thống kê đến khả năng sinh lợi của Hindalco Industries Limited. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Afza và Nazir (2009) đã nổ lực nghiên cứu mối quan hệ truyền thống giữa chính sách quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lợi công ty với mẫu 204 công ty phi tài chính sàn chứng khoán Karachi trong thời gian 1998-2005.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức ý nghĩa khác nhau giữa nhu cầu vốn lưu động và chính sách tài chính theo các ngành khác nhau. Hơn thế nữa, kết quả hồi quy cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa khả năng sinh lợi và mức thái quá của đầu tư vốn lưu động và các chính sách tài chính. Các tác giả đề xuất rằng các nhà quản lý có thể tăng giá trị nếu họ chấp nhận các tiếp cận mang tính vừa phải đối với đầu tư vốn lưu động và các chính sách tài chính vốn lưu động. “Tạp Chí Doanh Nghiệp & Nghiên Cứu Kinh Tế” ( Tháng 12- năm 2010) đã nghiên cứu ảnh hưởng của quản lý vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty, bằng chứng thực nghiệm từ thị trường mới nổi với giả thuyết rằng việc quản lý vốn lưu động giúp cải thiện lợi nhuận.
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 43 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Cyprus giai đoạn 1998-2007. Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, kỳ luận chuyển hàng tồn kho, kỳ phải thu khách hàng và kỳ phải trả người bán có liên quan đến lợi nhuận của công ty. Kết quả nghiên cứu này có tầm quan trọng tuyệt vời đối với các nhà quản lý và các bên liên quan, chẳng hạn như các nhà đầu tư, các chủ nợ và các nhà phân tích tài chính, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Với mô hình nghiên cứu cụ thể sau: Kulkanya Napompech (2012) đã nghiên cứu tác động của quản trị vốn lưu động trên khả năng sinh lợi của công ty với mẫu nghiên cứu là 255 công ty niêm yết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thái Lan từ năm 2007 đến hết năm 2009.
Kết quả cho thấy một mối quan hệ nghịch biến giữa lợi nhuận hoạt động và chu kỳ chuyển đổi hàng tồn kho, kỳ phải thu khách hàng,. Vì vậy, các nhà quản lý có thể làm tăng lợi nhuận của các công ty của họ bằng cách rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, kỳ luân chuyển hàng tồn kho và thời gian phải thu khách hàng. Tuy nhiên, họ không thể làm tăng lợi nhuận bằng cách kéo dài các khoản phải trả. Cuối cùng, Nhóm tác giả Pedro Juan Garcia – Teruel và Pedro Martinez- Solano đã tiến hành khảo sát 8.872 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha từ năm 1996 đến năm 2002.
Mục tiêu nghiên cứu của các tác giả là nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của các công ty vừa và nhỏ trong mẫu nghiên cứu. Kết qủa nghiên cứu cho thấy các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho công ty bằng cách giảm số ngày thu tiền khách hàng và giảm thời gian tồn kho hàng hóa. Bên cạnh đó, việc rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cũng làm tăng khả năng sinh lợi của công ty. Quản trị vốn luân chuyển đặc biệt quan trọng trong trường hợp các công ty có qui mô vừa và nhỏ ( công ty có ít hơn 250 lao động , doanh thu ít hơn 40 triệu bảng và vốn chủ sở hữu ít hơn 27 triệu bảng).
Hầu hết tài sản của các công ty này nằm ở dạng tài sản lưu động. Tương tự, nợ ngắn hạn là một trong những nguồn tài trợ từ bên ngoài chủ yếu của công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối tương quan nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi của các công ty vừa và nhỏ với số ngày phải thu và số ngày tồn kho. Tuy nhiên , nhóm tác giả không thể xác định số ngày phải trả cho người bán ảnh hưởng đến ROA của các công ty đã nghiên cứu như thế nào ?vì mối quan hệ này không có ý nghĩa thống kê khi kiểm soát những vấn đề nội sinh.
Với mô hình nghiên cứu cụ thể như sau : LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam , năm 2011, tác giả Bùi Kim Phương đã nghiên cứu tác động của việc quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi và dòng tiền hoạt động của 365 công ty phi tài chính,niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (Hose) và Sở giao dịch chứng khoán Hà nội ( HNX) trong giai đoạn từ năm 2008- 2010. Bài nghiên cứu này đã cho thấy có mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, kỳ thu tiền khách hàng,kỳ chuyển đổi hàng tồn kho và khả năng thanh toán nhanh với tỉ lệ dòng tiền hoạt động trên doanh thu. Ngược lại , việc sử dụng đòn bẫy tài chính có mối quan hệ đồng biến với tỉ lệ dòng tiền hoạt động trên doanh thu .Riêng đối với kỳ thanh toán cho nhà cung cấp, tốc độ tăng trưởng doanh thu và qui mô công ty không có tương quan có ý nghĩa thống kê với dòng tiền hoạt động của công ty .Kết quả nghiên cứu còn chỉ ra mối tương quan nghịch biến giữa khả năng sinh lợi (được đo bằng ROA) với kỳ chuyển đổi tiền mặt, kỳ chuyển đổi hàng tồn kho, kỳ thu tiền khách hàng và kỳ thanh toán cho nhà cung cấp. Năm 2012, tác giả Phan Thị Phượng đã nghiên cứu mối quan hệ thống kê giữa khả năng sinh lợi (được thể hiện qua tỷ suất lợi nhuận gộp ) và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, kỳ chuyển đổi hàng hàng tồn kho,kỳ thu tiền khách hàng …ở các doanh nghiệp thông qua mẫu nghiên cứu gồm 331 công ty,được niêm yết trên sàn giao dịch LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chứng khoán Việt Nam.