chương 1 Chương này, học viên trình bày phần giới thiệu nghiên cứu. Trong đó, trình bày sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu, bố cục của luận văn. Một trong những điểm mới của chương này, đó là: Thứ nhất, dựa trên bối cảnh thực tiễn và tổng quan các nghiên cứu trước, học viên đã chỉ ra khoảng trống nghiên cứu. Thứ hai, học viên đã xác định được mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài luận văn.
Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu này, học viên cũng xác định được các câu hỏi nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA LOẠI HÌNH SỞ HỮU, QUY MÔ VÀ TẬP TRUNG THỊ TRƯỜNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại HQHĐ của NHTM là một trong những vấn đề không những nhận được sự quan tâm bởi các chủ sở hữu vốn, ban điều hành, các chủ nợ; mà còn là vấn đề rất được quan tâm bởi các cơ quan Quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Bởi HQHĐ không chỉ là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh sức khỏe tài chính của các NHTM (Golin và Delhaise, 2013), HQHĐ của các NHTM còn có liên quan rất mật thiết với sự ổn định tài chính (Huljak và ctg, 2019). Đề cập đến khái niệm HQHĐ, Afonso và ctg (2006, trang 9) cho rằng: “HQHĐ được định nghĩa như là sự so sánh trong mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí. Một tổ chức được cho là hoạt động có hiệu quả khi tạo ra được lợi ích đầu ra lớn hơn so với chi phí đầu vào”. Ngoài ra, các tác giả còn cho rằng, để đo lường hiệu quả thì yêu cầu chung đó là (a) ước lượng được các chi phí đầu vào, (b) ước lượng được các đầu ra, và (c) so sánh giữa đầu ra và đầu vào.
Còn theo Golin và Delhaise (2013, trang 265): “HQHĐ là việc xem xét thu nhập sẽ như thế nào khi được so sánh với các đầu vào hoặc các biến khác có liên quan đến thu nhập đó”. Trong đó, các tác giả nhấn mạnh sức mạnh của thu nhập, bởi “sức mạnh của thu nhập là chìa khóa cốt lõi của sự thành công hoặc thất bại của một định chế tài chính – sức mạnh của thu nhập đo lường khả năng của một ngân hàng trong việc tạo ra giá trị kinh tế, cũng như tạo thêm nguồn lực để duy trì hoặc cải thiện việc phòng ngửa rủi ro đối với người cấp tín dụng”1. Với những khái niệm ở trên cho thấy, để đo lường HQHĐ của các NHTM, trước tiên cần phải xác định, định nghĩa đầu ra và đầu vào được sử dụng để tính toán HQHĐ; tiếp theo cần phải ước lượng được đầu ra, cũng như đầu vào mà NHTM bỏ ra để đạt được đầu ra đó; cuối cùng là thực hiện việc so sánh giữa đầu ra và đầu vào 1 Moody’s Investor Services, Bank Financial Strength Ratings: Reviesed methodogy, September 2006 (Golin và Delhaise, 2013, trang 261). 14 – sự so sánh giữa đầu ra và đầu vào có thể được thể hiện bằng số tuyệt đối hoặc cũng có thể được thể hiện bằng số tương đối.
Để gia tăng HQHĐ, các NHTM thường có ba hướng tiếp cận: (a) tối thiểu hóa các nguồn lực đầu vào – với đầu ra được xác định trước, các NHTM sẽ áp dụng các biện pháp để kiểm soát, giảm thiểu các chi phí có liên quan đến các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, công nghệ; (b) tối đa hóa đầu ra – với nguồn lực đầu vào được xác định trước, các NHTM sẽ áp dụng các biện pháp để gia tăng kết quả đầu ra như hợp lý hóa quá trình tạo ra sản phẩm và/hoặc áp dụng công nghệ mới nhằm gia tăng năng suất lao động; (c) gia tăng cả nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra, nhưng với điều kiện là kết quả đầu ra gia tăng với tốc độ cao hơn so với sự gia tăng nguồn lực đầu vào – gia tăng đầu vào kết hợp với sự hợp lý hóa quá trình tạo ra sản phẩm và/hoặc áp dụng công nghệ mới để đạt được điều kiện này. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Dưới phương diện lý thuyết và thực tiễn, để đo lường HQHĐ của các NHTM, một số tác giả đã sử dụng chỉ tiêu hiệu quả chi phí (cost efficiency) và/hoặc hiệu quả lợi nhuận (profit efficiency) (Maudos và ctg, 2002; Amel và ctg, 2004; Tecles và Tabak, 2010); sử dụng chỉ tiêu ROA, ROE và/hoặc NIM (Athanasoglou và ctg, 2005; Flamini và ctg, 2009; Kirakul và ctg, 2019); sử dụng chỉ tiêu ROAA và/hoặc ROAE (Dietrich và Wanzenried, 2011, 2014; Petria và ctg, 2015). Để đo lường HQHĐ của các NHTM có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau, việc sử dụng chỉ tiêu nào để đo lường sẽ tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu của người phân tích. Với các chỉ tiêu như hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi nhuận – các chỉ tiêu được dựa trên cách tiếp cận cấu trúc trong kỹ thuật đo lường và giải thích HQHĐ của các NHTM, đây là cách tiếp cận thường được sử dụng nhằm giúp đưa ra những chỉ dẫn đối với sự lựa chọn đầu ra và đầu vào trong việc tạo ra cấu trúc sản phẩm của NHTM.
Với các chỉ tiêu như ROA/ROAA, ROE/ROAE – các chỉ tiêu được dựa trên cách tiếp cận phi cấu trúc trong kỹ thuật đo lường HQHĐ của các NHTM, đây là cách tiếp cận thường được sử dụng để so sánh HQHĐ giữa các NHTM, xem xét mối quan hệ giữa HQHĐ với chiến lược đầu tư và các nhân tố khác, chẳng hạn như đặc tính về quản trị, sự tăng trưởng bởi sự sáp nhập tài sản, sự tập trung hoặc đa dạng hóa trong hỗn hợp sản phẩm, vấn đề đại diện (Hughes và Mester, 2008). Trong đó, khi đo lường 15 HQHĐ của các NHTM bằng các chỉ tiêu như ROA, ROE hoặc ROAA, ROAE; sử dụng chỉ tiêu ROAA, ROAE sẽ phù hợp hơn, bởi việc sử dụng giá trị trung bình hàng năm đối với tổng tài sản và vốn chủ sở hữu thì việc đo lường HQHĐ của NHTM sẽ xác thực hơn so với giá trị cuối năm (Petria và ctg, 2015). Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích tác động của loại hình sở hữu, quy mô và tập trung thị trường đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam, để đo lường HQHĐ của các NHTM Việt Nam, học viên sẽ sử dụng chỉ tiêu ROAA và ROAE. ▪ Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân Công thức để tính ROAA như sau: Lợi nhuận sau thuế ROAA = (Phương trình 2.1) Tổng tài sản bình quân Trong đó, với số liệu về lợi nhuận sau thuế và tổng tài sản (TTS) bình quân, chúng được lấy từ báo cáo tài chính của các NHTM.
Chỉ tiêu ROAA là một trong những chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi để đo lường HQHĐ của các NHTM. Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản khi được NHTM sử dụng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, không phân biệt tài sản đó được hình thành từ nguồn vốn nào – một NHTM có ROAA cao hơn được đánh giá là hoạt động có hiệu quả hơn. Điều này có thể là nhờ vào việc kiểm soát tốt chi phí có liên quan đến các yếu tố đầu vào và/hoặc có thể là nhờ chiến lược đầu tư vào các tài sản hợp lý, qua đó gia tăng được thu nhập. Ngược lại, một NHTM có ROAA thấp có thể là do kiểm soát chi phí không tốt và/hoặc chiến lược đầu tư vào các tài sản thiếu hợp lý – đầu tư quá nhiều vào các loại tài sản mà thực tế có mức độ rủi ro quá cao; hoặc cũng có thể NHTM ngại rủi ro, do đó đầu tư nhiều vào các loại tài sản có mức độ rủi ro thấp nhưng đồng thời cũng có mức sinh lời thấp.
▪ Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu bình quân Công thức để tính ROAE như sau: Lợi nhuận sau thuế ROAE = (Phương trình 2.2) Vốn chủ sở hữu bình quân Trong đó, với số liệu về lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu (CSH) bình quân, chúng được lấy từ BCTC của các NHTM. 16 Chỉ tiêu ROAE là một trong những chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi để đo lường HQHĐ của các NHTM. Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn CSH khi được NHTM sử dụng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Một NHTM có ROAE cao hơn được đánh giá là có hiệu quả sử dụng vốn CSH cao hơn.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn CSH, bên cạnh việc phải kiểm soát tốt chi phí có liên quan đến các yếu tố đầu vào và/hoặc phải có chiến lược đầu tư vào các tài sản hợp lý, đòi hỏi các NHTM cũng cần phải sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức độ hợp lý. Sự tác động của loại hình sở hữu, quy mô và tập trung thị trường đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 2. Các lý thuyết nền tảng 2. Lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện (Agency theory) được đưa ra đầu tiên bởi Ross (1973) và được Jensen và Meckling (1976) hoàn thiện thêm.
Các tác giả cho rằng, vấn đề đại diện có thể nảy sinh khi một công ty có sự phân chia giữa quyền sở hữu và kiểm soát. Trong lý thuyết đại diện, người có quyền sở hữu về tài sản của công ty được gọi là người ủy quyền, và người kiểm soát/quản lý các hoạt động của công ty được gọi là người đại diện. Khi ủy quyền, người ủy quyền mong đợi người đại diện sẽ thực hiện các hành động mang lại lợi ích tốt nhất cho mình, nhưng điều này không phải lúc nào cũng thực hiện được; bởi đôi khi giữa người ủy quyền và người đại diện có sự mâu thuẫn về sự quan tâm đối với các mục tiêu của công ty. Để hạn chế vấn đề đại diện, người ủy quyền có thể thiết lập những điều khoản ràng buộc trong các hợp đồng và thực hiện việc giám sát đối với người đại diện.
Vì vậy, các mối quan hệ đại diện thường phát sinh chi phí đại diện – gồm chi phí giám sát của người ủy quyền, chi phí để chứng minh việc thực hiện cam kết của người đại diện, và tổn thất phụ thêm. Với lĩnh vực ngân hàng, Berger và ctg (2005) cho thấy, các loại hình sở hữu ngân hàng khác nhau như sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân trong nước và sở hữu nước ngoải, được xem như là những hình thức quản trị (governance) ngân hàng.