CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM - LIÊN MINH KINH TẾ Á-ÂU TỚI XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nội dung tổng quan 1. Các công trình nghiên cứu về xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang CHLB Nga Theo TS.
Đặng Hùng Sơn (2012) đưa ra góc nhìn sâu kĩ hơn từ chính sách thương mại quốc tế của Nga giai đoạn đầu thập kỉ 2010, định hình cách thức phát triển của nền kinh tế và hoạch định từng giai đoạn của nền kinh tế Nga, từ đó đưa ra các cách tiếp cận thị trường Nga cho doanh nghiệp Việt. Không chỉ dựa trên thực tế thế mạnh mặt hàng xuất khẩu của nội tại doanh nghiệp hay khả năng cung ứng cả một vùng nguyên liệu, thâm nhập một thị trường mới, một ngành mới, cần dựa trên chính sách phát triển của nước nhập khẩu, định hướng phát triển và thông qua các kênh ngoại giao để trao đổi, tháo gỡ nhằm đưa ra chiến lược xuất khẩu thành công cho doanh nghiệp. Đinh Thị Duyên (2015), thị trường Nga không quá khó tính như thị trường EU, nhưng những khó khăn trong tiêu chuẩn đánh giá hàng hóa giữa Việt Nam - CHLB Nga, tạo ra những rào cản thương mại, thủ tục hành chính khó khan cho hàng hóa xuất khẩu. Tiến trình hội nhập quốc tế cũng có khoảng cách, Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, trong khi CHLB Nga tới năm 2012 mới gia nhập, mức độ chuyển đổi, hòa hợp của nền kinh tế trong không gian mới chưa bắt kịp với WTO.
Cả hai nước cũng chưa có hiệp định thương mại song phương nào để thúc đẩy hai chiều. Nghiên cứu “Trade and Investment Cooperation between Russia and Vietnam: Results, Problems, and Prospects” của GS. Anosova (2019) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga cho rằng, Việt Nam vẫn đang tiếp tục duy trì chính sách hợp tác kinh tế với Nga bất chấp áp lực ngày càng tăng từ chính quyền Hoa Kì hiện nay nhằm kiềm chế sự hiện diện của Nga tại Việt Nam. Và Việt Nam coi Nga là đối 6 tác kinh tế - thương mại đáng tin cậy và sự hợp tác giữa hai nước là cách để gia nhập hàng ngũ các nước Đông Nam Á phát triển.
Anikin (2020) và cộng sự của nghiên cứu “Foreign trade of Russia and Vietnam: Modern trends and prospects of development”, giai đoạn 2010–2018, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa CHLB Nga và Việt Nam tăng trưởng ở mức khá cao. Xuất khẩu hàng hóa của CHLB Nga sang Việt Nam trong giai đoạn này đã tăng từ 1.3 tỷ USD lên 2.5 tỷ USD, tăng 84.1%, tương ứng với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 10. Nhập khẩu hàng hóa của CHLB Nga từ Việt Nam thậm chí còn tăng với tốc độ nhanh hơn: từ 1.1 tỷ USD lên 3.6 tỷ USD, tức là tăng 226.2%, tương ứng với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 28. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của hàng hóa CHLB Nga nhập khẩu từ Việt Nam trong giai đoạn nêu trên cao hơn 2.7 lần tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa của CHLB Nga sang Việt Nam.
Theo nhiều ước tính khác nhau, đến năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước có thể tăng lên 10 tỷ USD. Nguyễn Hạnh (2022), sau gần 7 năm thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu, thuế nhập khẩu đối với phần lớn các mặt hàng xuất khẩu của hai bên đã giảm về 0% hoặc ở mức rất thấp là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam và Nga tăng cường hợp tác thương mại và đầu tư trên thị trường của nhau. Ngoài ra, trước tình hình biến động địa chính trị tại CHLB Nga, các doanh nghiệp phương Tây rút khỏi Nga tạo ra khoảng trống lớn trên thị trường. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam với thế mạnh về hàng may mặc, giày dép, nông sản, hàng tiêu dùng, điện tử gia dụng tăng xuất khẩu, đầu tư sang Nga.
Trong nghiên cứu “Trade and Economic Cooperation Between Russia and Vietnam at the Present Stage” của tác giả Revenko Nikolay Sergeevich (2022), Viện Nghiên cứu Quan hệ Kinh tế Quốc tế CHLB Nga, mối quan hệ Nga-Việt có tính chất lịch sử, truyền thống thân thiện. Quan hệ giữa hai nước đang phát triển theo hình thức đối tác chiến lược toàn diện, nhưng hợp tác kinh tế thương mại chưa đáp ứng được mức độ cao như quan hệ chính trị mong muốn, tuy nhiên việc ký kết Hiệp định TMTD giữa EAEU và Việt Nam đã kích thích sự gia tăng thương mại Nga-Việt, nhưng chủ 7 yếu là do tăng trưởng nhập khẩu từ Việt Nam. Đồng thời, nguồn cung sản phẩm máy móc, dệt may, da giày của Việt Nam sang Nga tăng lên đáng kể và trong khi ở chiều ngược lại, xuất khẩu của Nga sang Việt Nam hầu như không thay đổi. Valeria Vershinina (2022), chuyên gia về ASEAN của Đại học MGIMO, Bộ Ngoại giao Nga, đã đánh giá sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Việt Nam, kiểm soát thành công, hạn chế sự lây lan của đại dịch Covid-19 và những kết quả quan trọng trong lĩnh vực chính sách ngoại giao đối ngoại đang ngày càng thu hút sự chú ý của các nhà quan sát quốc tế, những người đã định vị Việt Nam là một “cường quốc tầm trung” và một nước có ảnh hưởng trên trường quốc tế.
Trên tạp chí NEA, số thứ nhất-năm 2023, với chủ đề “Russian-Vietnamese economic cooperation in new conditions”, tác giả M.Ykovlev chỉ ra triển vọng hợp tác kinh tế Nga-Việt trong điều kiện địa chính trị mới. Buộc Nga phải tăng cường chính sách “hướng Đông”. Nghiên cứu cho thấy rằng nhờ những cải cách được thực hiện, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, hội nhập chặt chẽ vào chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu, cân bằng quan hệ giữa những khu vực và các nước có nền kinh tế phát triển. Mặc dù có mối quan hệ chính trị, ngoại giao chặt chẽ trong lịch sử giữa Nga và Việt Nam, nhưng mối quan hệ kinh tế giữa hai nước vẫn còn yếu.
Các biện pháp trừng phạt do các nước không thân thiện áp đặt đối với Nga, ước tính ban đầu sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng phát triển kinh tế với Việt Nam do chi phí giao dịch tăng lên và rủi ro về các biện pháp trừng phạt thứ cấp đối với các đối tác của Việt Nam. Tuy nhiên, việc định hướng lại hợp tác đầy đủ và thực tế với các nước “hướng Đông” và cụ thể các nước Đông Nam Á sẽ giúp Nga mở rộng hợp tác kinh tế với Việt Nam, từ đó tăng cường sự phát triển với các khu vực phía Đông của Nga. Các công trình nghiên cứu về Hiệp định TMTD Việt Nam – Liên minh kinh tế Á - Âu (EAEU) Nguyễn Cảnh Toàn (2021), hiện có khoảng 1,000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia xuất khẩu sang thị trường EAEU, trong đó có khoảng 200 doanh nghiệp có kim ngạch lớn. Chiếm 90% tổng kim ngạch xuất khẩu, chủ yếu liên quan đến thủy sản, 8 thương mại cà phê, cao su, chè, gạo, hạt điều, hạt tiêu, dệt may, dép, gỗ, bánh kẹo các loại.
Hiệp định thương mại với EAEU mở ra cơ hội tăng cường xuất khẩu của Việt Nam và khu vực thương mại tự do Việt Nam-EAEU mang lại những lợi thế tự nhiên. Một số sản phẩm dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Liên minh Á-Âu vượt ngưỡng quy định tại Hiệp định TMTD. Bộ Công Thương Việt Nam đã nhận được Công hàm EEC số 14-575 ngày 28/9/2021, thông báo sản phẩm dệt may Việt Nam xuất khẩu sang EAEU đã vượt ngưỡng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu ưu đãi được thiết lập cho năm 2021. Như vậy, nhóm quần áo đồ lót đạt 175% ngưỡng quy định, nhóm quần áo váy, đầm nữ đạt 105% ngưỡng quy định, nhóm vest, áo jacket, áo khoác thể thao, quần dài đạt 100% ngưỡng quy định, cho thấy tiềm năng xuất khẩu riêng ngành may mặc, dệt may là rất lớn Trong 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, tình hình đã thay đổi một cách đáng kể và chúng ta cần điều chỉnh hạn ngạch để giữ được đà phát triển.
Nếu điều này không được thực hiện kịp thời, doanh nghiệp Việt Nam sẽ chuyển hướng sang thị trường Mỹ, Trung Quốc. Tại hai thị trường này, kim ngạch thương mại đạt xấp xỉ 100 tỷ USD, chẳng hạn nếu lấy thị trường Mỹ, trong 25 năm qua, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã tăng 168 lần, từ mức 450 triệu USD năm 1995, khi hai thị trường này hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, lên tới 1,5 tỷ USD vào năm 2001 khi ký hiệp định thương mại song phương và đạt xấp xỉ 100 tỷ USD vào năm 2021. Dòng vốn đầu tư trực tiếp từ Hoa Kỳ đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của Việt Nam thông qua các dự án quy mô lớn, giúp tăng cường củng cố vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trên tạp chí International Organisations Research, số 16, năm 2021, với chủ đề “The Trade Service Agreement Between Vietnam and the EAEU and the Formation of Negotiation Strategies on New Agreements in the Service Sector: The First Results”, nhóm tác giả GS.Vasileva đã phân tích khía cạnh lý luận và thực tiễn trong việc triển khai các quy định về thương mại dịch vụ của Hiệp định thương mại tự do giữa EAEU và Việt Nam, cụ thể áp dụng cho Nga và Việt Nam.
Kết quả của việc thực hiện hiệp định là công cụ, nền tảng giúp 9 hình thành những đóng góp chính của các chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả của các hiệp định thương mại dịch vụ trong tương lai giữa EAEU và các đối tác nước ngoài khác. Theo Báo cáo phát triển năm 2022 của Hội đồng Quan hệ Quốc tế Nga - RIAC đã đánh giá cao tầm quan trọng của thương mại đối với Việt Nam và EAEU khi Việt Nam là nước đầu tiên mà khối này kí kết hiệp định thương mại, tiếp sau đó có Serbia, Singapore, và một hiệp định tạm thời với Iran. Tuy nhiên, chỉ có duy nhất Hiệp định TMTD với Việt Nam là hoàn thiện và có thể đánh giá đầy đủ về tác động kinh tế hai chiều. Về phía Việt Nam, tỷ lệ cắt giảm thuế nhập khẩu từ EAEU, bình quân giảm từ 16% xuống 0.2% đối với sản phẩm nông nghiệp và 8.9% xuống 0% đối với sản phẩm công nghiệp.
Ngược lại, các quốc gia thành viên EAEU cũng cắt giảm thuế quan nhập khẩu trung bình từ 9.4% đối với hàng nông sản và từ 8% xuống 0.5% đối với hàng hóa công nghiệp.