CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN FDI VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ FDI NHẬT BẢN VÀO MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG AEC 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, nỗ lực hội nhập kinh tế khu vực đã được thúc đẩy mạnh mẽ. Hợp tác không chỉ là xóa bỏ rào cản giữa các nước trong nhóm mà còn mở rộng sức mạnh của mỗi quốc gia và tầm ảnh hưởng ra bên ngoài, có thể thấy điều đó trong thành công về kinh tế của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và việc ra đ ời Cộng đ ồng Kinh tế ASEAN (AEC). Gần 2/3 tăng trưởng của ASEAN trong 25 năm qua là nhờ hiệu quả sản xuất. Ngày nay, ASEAN là khu vực xuất khẩu lớn thứ tư thế giới, chiếm 7% kim ngạch xuất khẩu toàn cầu.
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á và cũng không nằm ngoài xu thế hội nhập khu vực, Việt Nam đã tích cực tham gia vào các Hiệp định thương mại tư do song và đa phương. Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức có hiệu lực từ cuối năm 2015 đã mang lại nhiều cơ hội cho các quốc gia thành viên ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng thông qua việc mở ra một thị trường rộng lớn và bình đẳng. Nhiều chuyên gia đều có chung nhận định rằng AEC sẽ là thị trường chung lớn nhất trong khu vực và nó sẽ giúp mở ra cơ hội để liên kết các thành viên của mình với phần còn lại của thế giới. Điều này sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho các nhà đầu tư nước ngoài bỏ tiền đầu tư nhiều hơn vào ASEAN.
ASEAN đã ký 5 hiệp định tự do thương mại FTA với Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Australia và New Zealand. Điều này mở ra cơ hội cho thương mại và đầu tư trong ASEAN. Trưởng văn phòng Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Bangkok kiêm trưởng đ ại diện khu vực ASEAN và Nam Á của JETRO, ông Masayasu Hosumi nhận định rằng AEC sẽ giúp thúc đẩy đầu tư và thương mại giữa ASEAN và các quốc gia khác. ASEAN hiện đã trở thành một cơ sở sản xuất của Nhật Bản.
4 Xét trên khía cạnh đầu tư, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã không ngừng tăng lên nhanh chóng về cả số lượng dự án và số vốn đăng kí kể từ khi ban hành luật đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1987. Trong số đó phải kể đến Nhật Bản – quốc gia luôn giữ tốc độ đầu tư cao, ổn định, luôn là 1 trong 2 quốc gia dẫn đầu về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Như đã nói ở trên, hội nhập AEC sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư Nhật Bản cũng không nằm ngoài xu thế đó. Vì thế lĩnh vực này thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Nghiên cứu FDI Nhật Bản ở Việt Nam tập trung vào các hướng như: nghiên cứu về sự đóng góp của FDI Nhật Bản cho phát triển kinh tế Viêt Nam, nghiên cứu tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế và kích thích đầu tư phát triển địa phương, nghiên cứu chính sách thu hút FDI, phân tích thực trạng thu hút FDI, nghiên cứu các nhân tố ảnh hướng đến dòng vốn FDI Việt Nam trên cấp độ quốc gia và địa phương.1 Các nghiên cứu về cộng đồng kinh tế ASEAN Trong bài viết “Hướng tới cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 2015: động thái của các quốc gia ASEAN, hàm ý đối với Việt Nam” của Bùi Hồng Cường, tác giả đã phân tích, đánh giá động thái của 9/10 quốc gia thành viên ASEAN đối với quá trình hội nhập AEC từ góc độ vĩ mô như công tác tuyên truyền, rà soat chính sách, cải cách thể chế. Đến quá trình nhận thức và chuẩn bị hội nhập của các doanh nghiệp. Qua đó đưa ra hàm ý đối với Việt Nam để hội nhập AEC thành công. Nghiên cứu “Việt Nam trong tiến trình hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC”) Đặng Đức Long đã trình bày khái quát về quá trình phát triển từ ASEAN/AFTA đến AEC, những nỗ lực thực hiện AEC của ASEAN và phân tích một số cơ hội, thách thức của việt nam trong tiến trình hội nhập vào AEC.
Luận án tiến sĩ “Cộng đồng kinh tế ASEAN nhìn từ góc độ của chủ nghĩa kiến tạo và một số hàm ý chính sách cho Việt Nam”, Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, Vĩnh Bảo Ngọc đã đưa ra khung khổ lý thuyết cho quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng kinh tế ASEAN; đồng thời phân tích sự hình hình thành và phát triển của cộng đồng kinh tế ASEAN, sự thay đổi nhận thức về hợp tác kinh tế khu vực ở Đông 5 Nam Á, về định hướng tham gia của Việt Nam trong quá trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN dưới góc nhìn của chủ nghĩa kiến tạo; và đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả tham gia vào AEC của Việt Nam Bổ sung thêm cách nhìn nhận về cộng đồng kinh tế ASEAN là bài viết “Việt Nam trong quá trình tham gia hiện thực hóa cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) thực trạng và đối sách”, Trường Đại học KHXH-NV TP.Hồ Chí Minh, 2014, Võ Minh Tập. Bài viết này tập trung phân tích và làm rõ: (1) Khái quát Cộng đồng kinh tế ASEAN và vai trò của Việt Nam; (2) Thực trạng Việt Nam khi tham gia và hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN; và (3) Đối sách của Việt Nam đối với quá trình hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN.2 Các nghiên cứu về tác động của cộng đồng kinh tế ASEAN đến FDI vào Việt Nam Nghiên cứu về “Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC): Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam” (Phát triển & hội nhập số 20 (30) - tháng 01- 02/2015) của Trần Văn Hùng & Lê Thị Mai Hương, bài viết tập trung nghiên cứu về Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) khi được thành lập và chỉ ra những cơ hội, thách thức đối với các doanh nghiệp VN, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp khuyến nghị góp phần thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp VN khi tổ chức kinh tế này được thành lập. Trong một nghiên cứu tiếp theo “Tác động của Cộng đồng Kinh tế ASEAN đến thương mại Việt Nam” (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 31, Số 4 (2015) 39-50 ), của Nguyễn Anh Thu, Vũ Thanh Hương, Vũ Văn Trung, Lê Thị Thanh Xuân, các tác giả sử dụng mô hình trọng lực để phân tích tác động của các hoạt động hội nhập này đến luồng thương mại hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam. Kết quả mô hình cho thấy hội nhập thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ trong AEC đã có tác đ ộng tích cực tới cả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam.
Do đó, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các hoạt động hợp tác về thương mại trong AEC. Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra rằng hội nhập thương mại với Hàn Quốc có tác động tích cực trong khi các hiệp định mới được ký kết như Hiệp định Thương mại 6 Tự do ASEAN-Australia-New Zealand, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản có tác động chưa rõ nét đến thương mại của Việt Nam. Bài nghiên cứu “Nghiên cứu, so sánh ảnh hưởng của việc tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) đối với thương mại quốc tế của Việt Nam” của Hà Văn Hội trên cơ sở so sánh các nội dung đàm phán hướng tới việc ra đời của cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào 2015 và Đàm phán Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình dương (TPP), cũng như những mục tiêu mà AEC và TPP hướng tới, bài viết phân tích, so sánh mức độ và phạm vi tự do hóa thương mại trong AEC và TPP. Từ đó, so sánh và đánh giá những tác động của tự do hóa thương mại trong AEC và TPP tới thương mại quốc tế của Việt Nam.
“Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN”, của Nguyễn Thị Tâm đã phân tích sâu về những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập AEC. Xét về cơ hội, Việt Nam có được một thị trường hàng hoá và dịch vụ rộng lớn hơn, Việt Nam cũng sẽ có cơ hội thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn, đ ặc biệt là từ các nước có nền kinh tế phát triển cao hơn như Singapore, Indonesia và nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu của Việt Nam. Thêm vào đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện giảm chi phí, hạ giá thành hàng xuất khẩu, góp phần gia tăng năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội là những thách thức không nhỏ do hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ nhỏ bé về quy mô mà còn cả công nghệ.
Thời điểm cộng đồng ASEAN bắt đầu có hi ệu lực vào năm 2015, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh từ hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu từ ASEAN, đầu tư của các nước ASEAN. Một số ngành sẽ phải thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa. Bài nghiên cứu “Một số cơ hội và thách thức đối với các nước ASEAN nói chung và đối với Việt Nam nói riêng của việc thực hiện AEC”, 2014, Lê Trung Tuyến đã phân tích cơ hội và thách thức đối với các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng trong việc thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Đó sẽ là cơ hội to lớn cho Việt Nam giúp nền kinh tế Việt Nam ngày càng định vị rõ hơn, vững chắc 7 hơn trong cấu trúc chuỗi sản xuất chung của khu vực.
Tuy nhiên, với việc AEC tạo ra thị trường chung, không còn rào cản không gian kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đối mặt với những cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp trong khu vực.3 Các nghiên cứu về FDI Nhật Bản vào Việt Nam Luận văn thạc sĩ, “FDI của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO”, Đại học Kinh tế, ĐHQGHN (2012) của Nguyễn Huy Hoàng đã khái quát được thực tế đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam đặt trong bối cảnh hội nhập WTO, đồng thời cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức của việc thu hút FDI từ Nhật Bản, từ đó để xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả dòng vốn này.