chương 1: Chương này đề cập đến các vấn đề sau: (1) Lý do chọn đề tài nghiên cứu, (2) Mục tiêu nghiên cứu, (3) Phạm vi và phương pháp nghiên cứu, (4) Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu, (5) Kết cấu của đề tài. Chương tiếp theo tác giả trình bày về cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề nghị. 8 123doc Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 GIỚI THIỆU Chương này trình bày những nội dung cơ bản của các lý thuyết có liên quan để làm cơ sở nền tảng cho nghiên cứu. Dựa trên nền tảng đó, các thuật ngữ, khái niệm được định nghĩa, làm sáng tỏ để sử dụng cho các chương sau.
Mô hình nghiên cứu đề xuất cùng với các giả thuyết nghiên cứu cũng được trình bày. Phần lớn các tài liệu hiện có trong lĩnh vực quản trị tri thức đã tìm cách xem xét những khía cạnh khác nhau của tổ chức và quản lý tri thức trong các điều kiện khác nhau và trong những ngữ cảnh khác nhau (ví dụ như tổ chức, cá nhân). Những khía cạnh khác nhau phân chia quản trị tri thức thành các lĩnh vực khác nhau. Nó bắt đầu từ việc tạo ra tri thức (Nonaka, 1994), nắm bắt tri thức (Kamara & ctg, 2003; Shapiro, 1999), chia sẻ tri thức (Dyer & Nobeoka, 2000; Hansen, 2002), chuyển giao tri thức (Argote & Ingram, 2000; Gilbert & Cordey-Hayes, 1996; Tsai, 2001) đến ứng dụng tri thức (Beccerra-Fernandez, 2007) và thậm chí cả việc học tập và đổi mới của tổ chức (Lam, 1998; Vakola & Rezgui, 2000).
Giáo dục bậc đại học và cao học góp phần tạo ra sự giàu có và khả năng cạnh tranh kinh tế (Richard Li-Hua, 2007). Trong đó chuyển giao tri thức có thể trở thành một chất xúc tác mạnh mẽ để đạt được các mục tiêu này (Champika & ctg, 2009). Chuyển giao tri thức trong giáo dục có thể diễn ra dưới nhiều hình thức như tại các dự án liên doanh (Richard Li-Hua, 2000), các chương trình liên kết đào tạo (Richard Li-Hua, 2007), kêu gọi các trường đại học nước ngoài vào hoạt động trong nước và kết nối những trường đại học đó với nền kinh tế địa phương (Dickson, 2009).2 TRI THỨC VÀ CHUYỂN GIAO TRI THỨC 9 123doc 2.1 Tri thức Tri thức (knowledge) là niềm tin mà người ta cho là đúng và khi làm theo niềm tin đó sẽ giúp gia tăng hiệu quả công việc của cá nhân (Alavi & Leidner, 2001). Theo Champika Liyanage & ctg (2009), tri thức có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể xem tri thức là: một trạng thái của nhận thức, một đối tượng, một quy trình, một điều kiện truy cập thông tin hay một khả năng của con người (Alavi & Leidner, 2001).
Tri thức được thể hiện chủ yếu ở hai dạng: tri thức ẩn và tri thức hiện. Cách phân loại này dựa trên mức độ phức tạp của tri thức (Koulopoulos & Frappaolo, 1999). - Tri thức ẩn là ''Tri thức không thể phát biểu, không trực quan và không thể biểu đạt thông qua ngôn ngữ'' (Polanyi, 1962). Đây là tri thức nằm trong bộ não con người và không thể dễ dàng nắm bắt hoặc mã hóa (Wong & Radcliffe, 2000; Nonaka & Takeuchi, 1991; McAdam & McCreedy, 1999).
Tri thức ẩn rất khó hoặc thậm chí không thể nắm bắt và truyền tải (Koulopoulos & Frappaolo, 1999; Pederson, 2003). Tuy nhiên, tri thức ẩn mang lại nhiều giá trị cho tổ chức hơn. - Tri thức hiện là “Tri thức có thể được nêu ra bằng ngôn ngữ chính thức và dễ dàng được truyền tải giữa các cá nhân” (Koulopoulos & Frappaolo, 1999). Theo Pederson (2003), tri thức có công dụng như một cuốn sách.
Tri thức chủ yếu là những thông tin được ghi chép trong các văn bản hoặc trên hệ thống máy tính. Vì vậy, không giống như tri thức ẩn, tri thức hiện có thể được thể hiện và hệ thống hóa một cách dễ dàng. Alavi & Leidner (2001) cho rằng một số nhà nghiên cứu cố gắng để làm nổi bật tri thức ẩn có giá trị hơn tri thức hiện hoặc ngược lại. Cho dù biết được tri thức ẩn hay tri thức hiện có giá trị hơn thì tri thức cũng chưa được hiểu một cách đầy đủ.
Bởi vì cả hai thuộc tính ẩn và hiện đều không phải là những trạng thái riêng biệt của tri thức, mà chúng phụ thuộc lẫn nhau và làm gia tăng chất lượng của tri thức: tri thức ẩn tạo nên sự cần thiết cho việc phát triển và làm rõ tri thức hiện (Polanyi, 1975). Mối liên hệ chặt chẽ của tri thức ẩn và tri thức 10 123doc hiện cho thấy chỉ những cá nhân với mức độ chia sẻ tri thức cần thiết mới có thể trao đổi tri thức một cách thực sự. Hiểu biết các khái niệm của tri thức là rất quan trọng bởi vì sự phát triển lý thuyết trong lĩnh vực quản trị tri thức chịu ảnh hưởng bởi sự phân biệt giữa các loại tri thức khác nhau (Alavi & Leidner, 2001). Một số quan điểm thường gặp thì coi dữ liệu là các số liệu và dữ kiện, thông tin là dữ liệu đã được xử lý, và tri thức là thông tin đã được chứng thực (Dretske, 1981; Vance, 1997; Alavi & Leidner, 2001).
Davenport & Prusak (1998) giải thích tri thức như là sự pha trộn của kinh nghiệm, các giá trị và thông tin theo ngữ cảnh. Tri thức chủ yếu bắt nguồn từ bộ não của một cá nhân, đó là thông tin được giải thích bởi các cá nhân và được áp dụng cho các mục đích cụ thể. Tri thức khác với sự tinh thông ở chỗ: Sự tinh thông là một khái niệm đặc biệt, nó là tri thức và sự hiểu biết chuyên sâu trong một lĩnh vực nào đó ở mức vượt xa so với mức bình thường. Sự tinh thông có được thông qua đào tạo, kinh nghiệm và giáo dục và được xây dựng từ đầu trong một thời gian dài bởi một cá nhân và quan trọng là sự tinh thông nằm ở bên trong bản thân con người đó (Bender & Fish, 2000).1: Hệ thống thứ bậc của tri thức Nguồn: Bender & Fish (2000) 11 123doc 2.2 Chuyển giao tri thức Chuyển giao tri thức (Knowledge transfer - KT) đóng vai trò quan trọng trong đào tạo, mặc dù công nghệ hiện nay giúp cho học viên tiếp cận các kết quả nghiên cứu một cách dễ dàng hơn thì vẫn tồn tại một khoảng cách lớn giữa những người tạo ra tri thức và những người sử dụng tri thức (Huberman, 1990; Love, 1985; Willmott, 1994).
Anderson (1992) cho rằng những nguyên nhân chủ yếu tạo nên khoảng cách này là do các nhà nghiên cứu thường dành sự quan tâm, thời gian và sự nỗ lực để tạo ra những tri thức mới mà ít quan tâm đến việc phổ biến kết quả nghiên cứu của họ đến với người sử dụng. Điều này tạo ra một rào cản lớn trong việc phổ biến các kết quả nghiên cứu đến với nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và các học viên. Lý do tạo nên khoảng cách này là do học viên thường có sự phản ứng với việc áp dụng tri thức mới (Kirst, 2000); năng lực và kỹ năng của họ thường hạn chế (Hemsley-Brown & Oplatka, 2005) là một số trở ngại chính trong việc hấp thụ và ứng dụng kết quả nghiên cứu. Cho dù lý do bắt nguồn từ phía nhà nghiên cứu hay từ phía người sử dụng, đa số đều công nhận chuyển giao tri thức giữa những nhà nghiên cứu và học viên cần phải được khuyến khích và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa vì đó là cách duy nhất làm giảm khoảng cách giữa nhà nghiên cứu và người sử dụng tri thức (Becheikh & ctg, 2010).1Định nghĩa chuyển giao tri thức Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về chuyển giao tri thức, một số nhà nghiên cứu đánh đồng việc chia sẻ tri thức với chuyển giao tri thức (Huber, 1991).
Sau này, nhiều nghiên cứu về chuyển giao tri thức đã đề xuất một mô hình tổng quát là “nguồn chuyển giao và bên tiếp nhận”. Theo Champika & ctg (2009), chuyển giao tri thức được xem xét dưới các góc độ khác nhau: chuyển giao tri thức theo quan điểm lý thuyết, chuyển giao tri thức theo quan điểm là hoạt động của sự giao tiếp, chuyển giao tri thức là sự dịch nghĩa.(2002) nêu ví dụ chuyển giao tri thức là sự dịch nghĩa: thay vì 12 123doc nói "đây là điều mà tôi biết” thì lại nói: "đây là hiểu biết của tôi và tri thức đó có nghĩa với bạn”. Theo Ko & ctg (2005) chuyển giao tri thức là sự truyền đạt tri thức từ phía nguồn (chuyển giao) và được học hỏi, áp dụng bởi bên tiếp nhận. Champika & ctg (2009) (kế thừa từ Christensen, 2003) định nghĩa chuyển giao tri thức là việc nhận diện (tiếp cận) tri thức đã tồn tại, tiếp thu tri thức đó và sau đó áp dụng tri thức này để phát triển ý tưởng mới hoặc cải thiện các ý tưởng hiện có để làm cho công việc được thực hiện nhanh hơn, tốt hơn hoặc an toàn hơn trước đó.
Vì vậy, về cơ bản thì chuyển giao tri thức không chỉ là khai thác nguồn tài nguyên có thể tiếp cận được, tức là tri thức, mà còn là việc làm thế nào để con người tiếp thu và hấp thụ được tri thức nhằm làm cho công việc của họ đạt được năng suất và hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là: làm sao để biết được chuyển giao tri thức đã diễn ra. Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra những cách tiếp cận đơn giản bằng cách định nghĩa chuyển giao tri thức như "cặp đôi trao đổi tri thức của tổ chức giữa một nguồn chuyển giao và một đơn vị tiếp nhận" (Szulanski 1996:28). Những nghiên cứu khác cũng tập trung vào những thay đổi đạt được từ phía người nhận.
Ví dụ, chuyển giao tri thức có thể được xem như là "quá trình mà qua đó một đơn vị (ví dụ: nhóm, bộ phận) bị ảnh hưởng bởi những kinh nghiệm của người khác" (Argote & Ingram 2000:151). Darr & Kurtzberg (2000:29) định nghĩa một cách rõ hơn: chuyển giao tri thức xảy ra "khi một bên chia sẻ tri thức và tri thức này được sử dụng bởi bên tiếp nhận".2 Sự khác nhau giữa “chia sẻ tri thức” và “chuyển giao tri thức” Trong các nghiên cứu cho thấy nhiều tác giả và nhà nghiên cứu chưa đưa ra được định nghĩa rõ ràng về chuyển giao tri thức và nó thường được đồng nhất với thuật ngữ “chia sẻ tri thức” Champika Liyanage & ctg (2009). Tuy nhiên, nếu xem 13 123doc xét một cách kỹ lưỡng sẽ thấy rằng hai khái niệm này khác nhau ở một số khía cạnh.