Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế học của nghiên cứu sinh Trịnh Quốc Tuy với đề tài "Tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam", được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Quốc Hội và PGS.TS Nguyễn Việt Hùng (bảo vệ năm 2019, mã số chuyên ngành: 9310101).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối Đổi mới và triển khai Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã phát triển thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Số liệu thống kê từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư ghi nhận tính đến ngày 20/12/2017, cả nước có 24.748 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 318,72 tỷ USD và vốn thực hiện lũy kế đạt 172,35 tỷ USD (chiếm tỷ lệ 54% tổng vốn đăng ký). Mặc dù nguồn vốn FDI đóng góp tích cực vào tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu, giải quyết việc làm và bổ sung nguồn thu ngân sách nhà nước, nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1991–2017 vẫn trải qua các chu kỳ biến động kinh tế vĩ mô rõ nét (tiêu biểu là các giai đoạn 1991–1994, 1995–1999 và 2008–2013).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực trạng: phần lớn các công trình trước đây tập trung phân tích chiều tác động từ các yếu tố kinh tế vĩ mô tới việc thu hút dòng vốn FDI, hoặc chỉ xem xét tác động một chiều của FDI tới tăng trưởng GDP đơn lẻ. Các nghiên cứu đánh giá tác động của FDI tới tổng thể các biến số vĩ mô khác như lạm phát, tỷ giá hối đoái, thâm hụt ngân sách và đặc biệt là chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp theo chuỗi thời gian dài ở cấp độ quốc gia còn rất hạn chế.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa lý luận về FDI, biến động kinh tế vĩ mô và cơ chế tác động của FDI tới biến động kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút, sử dụng dòng vốn FDI, tình hình biến động kinh tế vĩ mô và lượng hóa tác động của FDI đến biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam giai đoạn 1991–2017.
  3. Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp chính sách nhằm thu hút, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI, phát huy các tác động tích cực và kiểm soát các tác động tiêu cực để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời gian tới.

Câu hỏi nghiên cứu

Tác giả đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng:

  1. Cơ sở lý thuyết về tác động của FDI tới biến động kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế được xác lập như thế nào?
  2. Có tồn tại mối quan hệ tác động của dòng vốn FDI tới các chỉ số thể hiện biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam giai đoạn 1991–2017 hay không, và chiều hướng cũng như mức độ tác động diễn ra như thế nào?
  3. Các giải pháp và chính sách về thu hút, sử dụng dòng vốn FDI của Việt Nam cần được định hình ra sao để hạn chế biến động tiêu cực và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong giai đoạn tiếp theo?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Đánh giá tình hình thu hút, sử dụng FDI và biến động kinh tế vĩ mô thông qua hai nhóm chỉ tiêu: các chỉ số kinh tế vĩ mô đơn lẻ (GDP, lạm phát/CPI, tỷ giá hối đoái, thâm hụt ngân sách) và chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp (MII - Macroeconomic Instability Index).
  • Phạm vi không gian: Cấp quốc gia Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1991–2017 (sử dụng chuỗi dữ liệu theo quý từ Quý 4/1991 đến Quý 4/2017, do năm 1991 là thời điểm vốn FDI đăng ký bắt đầu được giải ngân thực chất và năm 2017 là thời điểm có đầy đủ hệ thống dữ liệu thống kê đồng bộ khi tác giả thực hiện nghiên cứu).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai trục nội dung chính: phương pháp đo lường biến động kinh tế vĩ mô và cơ chế tác động của FDI tới từng biến số kinh tế vĩ mô.

Hướng nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung và luận điểm chính
Đo lường biến động kinh tế vĩ mô qua chỉ số đơn lẻ Ramey & Ramey (1995); Acemoglu và cs (2003); Case & Fair (2006); Van der Ploeg & Poelhekke (2009); Di Giovanni & Levchenko (2010); Fischer (1991, 1993); Azam (1997, 2001); Obstfeld & Rogoff (1998); Campa & Goldberg (1995). Sử dụng độ lệch chuẩn của tăng trưởng GDP bình quân đầu người, mức độ biến động lạm phát, tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GNP hoặc biến động tỷ giá hối đoái làm biến số đại diện cho bất ổn kinh tế vĩ mô.
Đo lường biến động kinh tế vĩ mô qua chỉ số tổng hợp IMF (2001, 2015); Ismihan, Metin-Ozcan & Aysit (2002); Jaramillo & Sancak (2007); Ali (2015); Hạ Thị Thiều Dao (2013); Lê Thị Thùy Vân (2016). Xây dựng các chỉ số tổng hợp: Chỉ số tổn thương tổng thể (VI), Chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô (MII, mii), Chỉ số tổn thương giảm tăng trưởng (GDVI) dựa trên phương pháp chuẩn hóa dữ liệu hoặc gán trọng số tín hiệu cảnh báo sớm.
Tác động của FDI tới GDP và tăng trưởng kinh tế Lucas (1988); Romer (1986); Mankiw (1992); Blomström & Kokko (1998); Borensztein và cs (1998); Bengoa & Sanchez-Robles (2003); Lê Xuân Bá (2006); Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006). FDI bổ sung nguồn vốn đầu tư xã hội, chuyển giao công nghệ, nâng cao kỹ năng lao động và kích cầu xuất khẩu. Tuy nhiên, Carkovic & Levine (2002) chỉ ra FDI không tự động tạo ra tăng trưởng độc lập nếu thiếu các điều kiện hấp thụ nội địa.
Tác động của FDI tới lạm phát Balassa (1964); Samuelson (1964); Combes, Kinda & Plane (2011); Takagi & Esaka (2001); Kawai & Takagi (2009); Kenichi Ohno & Lê Quốc Hội (2008); Võ Trí Thành & Phạm Chí Quang (2009). Dòng vốn FDI lớn làm gia tăng cung tiền (M2) và tín dụng, gây áp lực tăng giá hàng hóa phi thương mại và chi phí lao động (hiệu ứng Balassa-Samuelson), kích hoạt rủi ro lạm phát và phát triển nóng.
Tác động của FDI tới tỷ giá hối đoái Calvo, Leiderman & Reinhart (1993, 1996); Edwards (1998); Athukorala & Rajapatirana (2003); Lartey (2008); Bakardzhieva, Naceur & Kamar (2010); Jongwanich & Kohpaiboon (2013); Menon (2009). FDI tác động trực tiếp lên tài khoản vốn và gián tiếp lên tài khoản vãng lai. Dòng vốn chảy vào lớn có thể làm tăng tỷ giá thực (REER), làm giảm sức cạnh tranh xuất khẩu; ngược lại nếu dòng vốn chủ yếu chuyển thành nhập khẩu máy móc thì áp lực lên tỷ giá thực sẽ giảm.
Tác động của FDI tới thâm hụt ngân sách Rostow (1956, 1971). FDI đóng góp trực tiếp qua thuế và gián tiếp qua mở rộng chuỗi cung ứng giúp tăng thu ngân sách. Tuy nhiên, tình trạng chuyển giá, gian lận thuế và ưu đãi quá mức có thể làm suy giảm hiệu quả thu ngân sách.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết về mối quan hệ giữa FDI và biến động kinh tế vĩ mô; khắc phục hạn chế của các nghiên cứu đơn lẻ bằng việc thiết lập khung phân tích đồng thời trên cả các chỉ số vĩ mô riêng biệt và chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp MII đối với nền kinh tế Việt Nam theo chuỗi thời gian quý từ Quý 4/1991 đến Quý 4/2017.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

  • Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Luận án vận dụng định nghĩa của OECD (1999), IMF (2011) và Luật Đầu tư Việt Nam (2005), xác định FDI là hình thức đầu tư dài hạn xuyên biên giới, trong đó nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ 10% vốn cổ phần hoặc vốn điều lệ trở lên nhằm nắm quyền kiểm soát và tham gia trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Luận án áp dụng lý thuyết OLI của Dunning (1977, 1993) về ba lợi thế cơ bản (Lợi thế sở hữu - Ownership, Lợi thế nội địa hóa - Internalisation, Lợi thế vị trí - Location) cùng khung phân tích các nhân tố thu hút FDI của UNCTAD (1998).
  • Biến động kinh tế vĩ mô: Được định nghĩa là sự tăng trưởng hoặc suy giảm thất thường của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian xác định, phản ánh qua sự thay đổi của các chỉ số kinh tế vĩ mô đơn lẻ (GDP, lạm phát, tỷ giá hối đoái, thâm hụt ngân sách) và chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp.
  • Cơ chế tác động lý thuyết:
    • Tác động tới GDP: Thông qua phương trình $GDP = C + I + G + NX$, dòng vốn FDI tác động qua ba kênh: (1) bổ sung vốn trực tiếp vào tổng đầu tư toàn xã hội ($I$) và tăng năng lực sản xuất; (2) thúc đẩy xuất khẩu ($NX$), tiếp cận chuỗi cung ứng toàn cầu; (3) tạo việc làm, nâng cao thu nhập người lao động để kích thích tiêu dùng cuối cùng ($C$).
    • Tác động tới lạm phát: Tác động tích cực qua việc tăng tổng cung và cải tiến công nghệ làm hạ giá thành đơn vị; tác động tiêu cực qua kênh mở rộng cung tiền ($M_2$), cạnh tranh cục bộ các nguồn lực đầu vào và hiệu ứng tiền lương lan tỏa.
    • Tác động tới tỷ giá hối đoái: Dòng vốn giải ngân tác động trực tiếp lên thặng dư tài khoản vốn và gián tiếp lên tài khoản vãng lai (qua kim ngạch xuất nhập khẩu của khối FDI), tác động đến tỷ giá danh nghĩa (NER) và tỷ giá thực hữu hiệu (REER).
    • Tác động tới thâm hụt ngân sách: Tác động thuận lợi khi gia tăng nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất nhập khẩu; tác động bất lợi xuất hiện khi doanh nghiệp FDI chuyển giá, báo lỗ giả tạo hoặc làm phát sinh chi phí đầu tư công và xử lý môi trường.

Khung đo lường chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp (MII)

Luận án áp dụng phương pháp của Ismihan và cộng sự (2002) trên cơ sở phương pháp tính chỉ số HDI của UNDP (1992) để tính chỉ số MII cho Việt Nam qua 2 bước:

  • Bước 1: Chuẩn hóa 4 chỉ số thành phần ($X$) gồm tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GNP, tỷ lệ nợ nước ngoài/GNP và biến động tỷ giá hối đoái: $$I_t = \frac{X_t - X_{\min}}{X_{\max} - X_{\min}} \quad (0 \le I_t \le 1)$$
  • Bước 2: Tính chỉ số MII theo trung bình số học giản đơn: $$MII_t = \frac{I_{t1} + I_{t2} + I_{t3} + I_{t4}}{4} \quad (0 \le MII_t \le 1)$$ Chỉ số $MII$ tiến dần về 0 biểu thị kinh tế vĩ mô ổn định; tiến dần về 1 phản ánh mức độ bất ổn kinh tế vĩ mô gia tăng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và dữ liệu

  • Phương pháp định tính và thống kê mô tả: Phân tích thực trạng cấp phép, cơ cấu hình thức đầu tư, lĩnh vực và địa bàn phân bổ của dòng vốn FDI giai đoạn 1988–2017; đánh giá xu thế diễn biến của GDP, CPI, tỷ giá và thâm hụt ngân sách.
  • Phương pháp định lượng chuỗi thời gian (thực hiện trên EViews 8.0):
    • Kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF) để kiểm tra tính dừng của chuỗi số liệu gốc và chuỗi sai phân.
    • Lựa chọn độ trễ tối ưu cho các mô hình tự hồi quy.
    • Kiểm định đồng tích hợp Johansen (Johansen Cointegration Test) nhằm xác định sự tồn tại của mối quan hệ cân bằng trong dài hạn.
    • Mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM - Vector Error Correction Model) để ước lượng đồng thời mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa FDI với MII cũng như giữa FDI với từng chỉ số vĩ mô đơn lẻ (GDP, CPI, tỷ giá).
    • Kiểm định quan hệ nhân quả Granger (Granger Causality Test).
    • Phân tích hàm phản ứng xung (Impulse Response Function) và phân rã phương sai (Variance Decomposition).
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu thứ cấp thu thập từ Tổng cục Thống kê (GSO), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF - Thống kê tài chính quốc tế IFS) và Ngân hàng Thế giới (WB).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến biến động kinh tế vĩ mô

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu học thuật trong nước và quốc tế về đo lường biến động kinh tế vĩ mô và tác động của dòng vốn FDI. Tác giả phân chia các chỉ báo đo lường vĩ mô thành hai nhóm: nhóm chỉ số đơn lẻ (GDP, lạm phát, tỷ giá, thâm hụt ngân sách) và nhóm chỉ số tổng hợp (chỉ số tổn thương VI của IMF 2001, chỉ số MII của Ismihan 2002, chỉ số mii của Jaramillo & Sancak 2007, chỉ số GDVI của IMF 2015). Đồng thời, chương này tổng thuật chi tiết các kênh truyền dẫn tác động của FDI đến tăng trưởng sản lượng, lạm phát, tỷ giá và cán cân ngân sách, qua đó chỉ rõ các khoảng trống nghiên cứu cần tiếp tục kiểm chứng thực nghiệm tại Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới biến động kinh tế vĩ mô

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho đề tài. Tác giả trình bày các định nghĩa, đặc điểm bản chất và phân loại hình thức FDI (Hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, mua bán - sáp nhập M&A, các hình thức BOT, BTO, BT). Chương này phân tích các yếu tố quyết định dòng vốn FDI (quy mô thị trường, độ mở kinh tế, chi phí lao động, rủi ro chính trị, hạ tầng cơ sở), làm rõ nội hàm biến động kinh tế vĩ mô và xây dựng các sơ đồ khối giải thích cơ chế tác động tích cực và tiêu cực của FDI tới GDP, lạm phát, tỷ giá, thâm hụt ngân sách và chỉ số vĩ mô tổng hợp MII.

Chương 3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tình hình biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam giai đoạn 1991 - 2017

Chương 3 trình bày bức tranh toàn cảnh về thực trạng FDI và biến động kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong 27 năm.

Về tình hình FDI, số liệu lũy kế tính đến cuối năm 2017 cho thấy:

  • Quy mô: Cấp phép 24.748 dự án với tổng vốn đăng ký 318,72 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 172,35 tỷ USD.
  • Cơ cấu ngành: Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đứng đầu (186,1 tỷ USD, chiếm 58,4% tổng vốn đăng ký); kinh doanh bất động sản đứng thứ hai (53,1 tỷ USD, chiếm 16,7%); sản xuất và phân phối điện, khí, nước đứng thứ ba (20,8 tỷ USD, chiếm 6,5%).
  • Đối tác đầu tư: Hàn Quốc dẫn đầu với 57,66 tỷ USD (chiếm 18,1%), tiếp theo là Nhật Bản với 49,46 tỷ USD (chiếm 15,5%), cùng sự góp mặt của Singapore, Đài Loan, British Virgin Islands, Hồng Kông.
  • Địa bàn phân bổ: Tập trung lớn nhất tại TP. Hồ Chí Minh (44 tỷ USD, chiếm 13,8%), Bình Dương (30,18 tỷ USD, chiếm 9,5%), Đồng Nai (27,34 tỷ USD, chiếm 8,6%), Hà Nội (27,28 tỷ USD, chiếm 8,5%).

Về biến động kinh tế vĩ mô, tác giả phân tích các biến động lớn của tỷ lệ tăng trưởng GDP, các đợt bùng phát lạm phát, diễn biến tỷ giá VND/USD, áp lực thâm hụt ngân sách và tính toán chuỗi chỉ số MII thực tế của Việt Nam giai đoạn 1991–2017.

Chương 4: Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam

Chương 4 tập trung vào quy trình ước lượng định lượng kinh tế lượng chuỗi thời gian theo quý (Q4/1991–Q4/2017). Tác giả thiết lập hai hệ thống mô hình:

  1. Mô hình đánh giá tác động của FDI tới chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp (MII): Xác định mối quan hệ giữa chuỗi logarit của MII ($LnMII$) và chuỗi logarit của FDI ($LnFDI$), kết hợp các biến kiểm soát vĩ mô. Quy trình kiểm định bao gồm: kiểm định tính dừng ADF, lựa chọn bước trễ tối ưu, kiểm định đồng tích hợp Johansen, ước lượng VECM ngắn hạn và dài hạn, kiểm định nhân quả Granger, phân tích hàm phản ứng xung và phân rã phương sai của $LnMII$.
  2. Mô hình đánh giá tác động của FDI tới các chỉ số kinh tế vĩ mô đơn lẻ: Thực hiện kiểm định đồng tích hợp và mô hình VECM riêng biệt giữa FDI với tăng trưởng GDP, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và tỷ giá hối đoái (EXR), làm rõ mức độ đóng góp phương sai và chiều hướng phản ứng của từng biến số vĩ mô trước các cú sốc dòng vốn FDI.

Chương 5: Gợi ý chính sách thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Chương 5 thảo luận bối cảnh, thuận lợi và khó khăn trong việc thu hút FDI thế hệ mới. Trên cơ sở kết quả định lượng ở Chương 4, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chính sách trọng tâm:

  1. Tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh ổn định, hoàn thiện khung pháp lý và bảo đảm tính nhất quán của chính sách kinh tế vĩ mô.
  2. Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ (giao thông, năng lượng, viễn thông, logistics) phục vụ tiếp nhận dòng vốn FDI công nghệ cao.
  3. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư theo hướng chủ động, có mục tiêu trọng điểm, ưu tiên các dự án có liên kết chuỗi với doanh nghiệp trong nước.
  4. Lành mạnh hóa công tác thu hút và quản lý hoạt động FDI: tăng cường thanh tra, kiểm toán chống chuyển giá, ngăn chặn gian lận hóa đơn và trốn thuế, bảo vệ môi trường và kiểm soát chặt chẽ việc chuyển giao công nghệ lạc hậu.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm rõ khung lý luận về biến động kinh tế vĩ mô; phân định các nhân tố bên trong (chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ) và nhân tố bên ngoài (độ mở kinh tế, luồng vốn dịch chuyển, cú sốc ngoại thương) tác động đến bất ổn vĩ mô.
  • Khái quát hóa khung lý thuyết toàn diện về cơ chế truyền dẫn tác động của FDI tới tổng thể các chỉ số vĩ mô của nước tiếp nhận, bao gồm cả các chỉ số đơn lẻ và chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp (MII), bổ sung cho khoảng trống nghiên cứu vốn chủ yếu nhìn nhận tác động rời rạc.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Lượng hóa thực nghiệm tác động của dòng vốn FDI tới chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp ($MII$) và các chỉ số kinh tế vĩ mô đơn lẻ ($GDP$, $CPI$, tỷ giá $EXR$) tại Việt Nam bằng mô hình VECM với chuỗi dữ liệu quý liên tục 27 năm (Quý 4/1991 đến Quý 4/2017).
  • Cung cấp cơ sở khoa học để cơ quan quản lý đánh giá tính hai mặt của FDI đối với ổn định vĩ mô, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chọn lọc FDI thế hệ mới gắn liền với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và thu hẹp thâm hụt ngân sách.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về dữ liệu và thời gian: Phạm vi số liệu dừng ở Quý 4/2017 theo niên giám thống kê có sẵn tại thời điểm nghiên cứu; dữ liệu vĩ mô theo quý được xử lý từ các nguồn thống kê chuyển đổi nên có thể chịu một số giới hạn về độ trễ thống kê.
  • Hạn chế về phương pháp xác định ngưỡng: Chỉ số $MII$ của Ismihan và cộng sự (2002) tính toán trên cơ sở chuẩn hóa tương đối giai đoạn nghiên cứu, chưa xác lập được giá trị ngưỡng tuyệt đối để cảnh báo sớm thời điểm nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng bất ổn như phương pháp $GDVI$ của IMF.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cập nhật chuỗi dữ liệu vĩ mô giai đoạn sau 2017; mở rộng phân tích tác động của FDI theo từng vùng kinh tế trọng điểm hoặc phân tách theo tính chất dòng vốn (FDI vào công nghiệp chế tạo so với FDI vào lĩnh vực bất động sản, tài chính).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên kinh tế học: Tham khảo khung lý thuyết tiếp cận biến động kinh tế vĩ mô, phương pháp xây dựng chỉ số tổng hợp MII và quy trình thực hành kinh tế lượng chuỗi thời gian (kiểm định ADF, Johansen, VECM, Granger, phản ứng xung, phân rã phương sai trên EViews).
  • Nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước: Tham khảo các luận cứ thực nghiệm về kênh tác động của dòng vốn FDI tới cung tiền, lạm phát, cán cân thanh toán và thu chi ngân sách để xây dựng định hướng thu hút FDI có chọn lọc, ngăn chặn chuyển giá và bảo đảm an toàn vĩ mô.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng chỉ số nào để đại diện cho mức độ biến động kinh tế vĩ mô tổng hợp của Việt Nam?

Luận án sử dụng Chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô ($MII$ - Macroeconomic Instability Index) do Ismihan và cộng sự (2002) đề xuất, được tính toán dựa trên chuẩn hóa 4 biến số vĩ mô đơn lẻ: tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GNP, tỷ lệ nợ nước ngoài/GNP và biến động tỷ giá hối đoái, với giá trị dao động từ 0 (ổn định) đến 1 (bất ổn cao).

2. Giai đoạn nghiên cứu và nguồn dữ liệu chuỗi thời gian của luận án được xác định như thế nào?

Luận án khảo sát giai đoạn 1991–2017, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian theo quý từ Quý 4/1991 đến Quý 4/2017. Nguồn số liệu được thu thập từ Tổng cục Thống kê (GSO), Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF/IFS) và Ngân hàng Thế giới (WB).

3. Tác giả sử dụng các kỹ thuật kinh tế lượng nào trong chương phân tích thực nghiệm?

Tác giả thực hiện trên phần mềm EViews 8.0 với các công cụ kinh tế lượng chuỗi thời gian: kiểm định tính dừng nghiệm đơn vị ADF, xác định độ trễ tối ưu, kiểm định đồng tích hợp Johansen, mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM), kiểm định nhân quả Granger, phân tích hàm phản ứng xung (Impulse Response) và phân rã phương sai (Variance Decomposition).

4. Quy mô và cơ cấu thu hút FDI tại Việt Nam tính đến hết năm 2017 đạt mức bao nhiêu?

Tính đến ngày 20/12/2017, Việt Nam có 24.748 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 318,72 tỷ USD, vốn thực hiện lũy kế đạt 172,35 tỷ USD (bằng 54% vốn đăng ký). Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất (58,4%), tiếp theo là kinh doanh bất động sản (16,7%). Hàn Quốc và Nhật Bản là hai đối tác đầu tư lớn nhất (chiếm lần lượt 18,1% và 15,5% tổng vốn).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trịnh Quốc Tuy là một công trình nghiên cứu hệ thống và quy chuẩn về mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và biến động kinh tế vĩ mô tại Việt Nam giai đoạn 1991–2017. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết kinh tế học vĩ mô và phương pháp ước lượng kinh tế lượng chuỗi thời gian (VECM, kiểm định Johansen, chỉ số tổng hợp MII), luận án đã làm rõ cơ chế tác động đa chiều của FDI tới tăng trưởng GDP, lạm phát, tỷ giá và thâm hụt ngân sách. Các kết quả định lượng và hệ thống kiến nghị chính sách trong luận án cung cấp luận cứ thực tiễn có giá trị cho công tác quản lý FDI và điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam.