Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm về đào tạo nghề, thu nhập của hộ gia đình, vai trò của đào tạo nghề đối với thu nhập, các nghiên cứu liên quan đến đào tạo nghề và thu nhập của hộ gia đình. Chương 3: Tổng quan địa bàn nghiên cứu. Tổng quan về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội; tình hình đào tạo nghề; định hướng công tác đào tạo nghề cho LĐNT của tỉnh Kiên Giang.
Chương 4: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Trình bày khung phân tích, mô hình nghiên cứu, mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu, nguồn dữ liệu nghiên cứu và phương pháp phân tích số liệu. Chương 5: Kết quả nghiên cứu Thống kê mô tả dữ liệu quan sát, so sánh, phân tích, thiết lập mô hình hồi quy, kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Thảo luận kết quả nghiên cứu. Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách Kết luận những nội dung, kết quả đề tài nghiên cứu đạt được, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm giúp hộ gia đình LĐNT có được điều kiện thuận lợi hơn trong tham gia học nghề, tìm kiếm việc làm và nâng cao thu nhập, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.
CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 2. Thu nhập của hộ gia đình Theo Tổng cục Thống kê (2010), “Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình mà các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là một năm, bao gồm: (1) Thu từ tiền công, tiền lương; (2) Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) Thu từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)”. Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp. Vậy, có thể hiểu thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền của các thành viên trong gia đình nhận được sau các hoạt động lao động, sản xuất, kinh doanh đã trừ đi chi phí.
Nghề, đào tạo và đào tạo nghề nghiệp Giáo trình Kinh tế lao động, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2002), “nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để có thể thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định”. “Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo con người có những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn, chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất như: thực phẩm, lương thực, công cụ lao động, hoặc giá trị tinh thần như: sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ… với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển xã hội”. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả công việc chuyên môn.
Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả. Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13, ngày 27/11/2014, cho rằng “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học, nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. Như vậy, đào tạo nghề là hoạt động dạy và học, nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người lao động; giúp họ có thể tìm được việc làm hoặc cải thiện năng suất, hiệu quả lao động của mình. Lao động và lao động nông thôn Theo C.
Angghen (1993) cho rằng lao động “trước hết là quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”. Bộ Luật Lao động số: 10/2012/QH13, ngày 18/6/2012, “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Nông thôn là vùng sinh sống, làm việc của cộng đồng chủ yếu là nông dân, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, là nơi có mật độ dân cư thấp, môi trường chủ yếu là thiên nhiên, cơ sở hạ tầng kém phát triển, tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp. Như vậy, ta có thể hiểu lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
VAI TRÒ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ Đào tạo nghề thực chất là việc trang bị cho người lao động một trình độ và kỹ năng nhất định, qua đó giúp cho người lao động có việc làm và thu nhập. Bởi vì, người có trình độ chuyên môn kỹ thuật, có kinh nghiệm, tay nghề tốt, sẽ cơ hội tìm được việc làm tốt hơn và ít có nguy cơ thất nghiệp. Thực tế đã cho thấy, tỉ lệ thất nghiệp của những người qua đào tạo nghề thấp hơn nhiều so với lao động phổ thông, thậm chí còn thấp hơn cả tỉ lệ thất nghiệp của những người tốt nghiệp đại học. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, càng đòi hỏi người lao động phải được trang bị những kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng thích ứng cần thiết.
Nhà nước, với tư cách là người quản lý xã hội, cần phải làm cho nhiều người, nhất là LĐNT, lao động nghèo tiếp cận được với các dịch vụ đào tạo nghề, khi đó “mặt bằng” thu nhập của người dân được nâng lên và người dân có thể tham gia vào quá trình phân phối tốt hơn. Nhận thức vai trò và tầm quan trọng của việc đào tạo nghề cho lao động, đặc biệt là lao động nông thôn, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, đã đặt ra chỉ tiêu “Đến năm 2020, tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%. Tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 65-70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%” Hiện nay nhu cầu học nghề của LĐNT là rất lớn, mong muốn đơn giản của họ là được học một nghề phù hợp để có việc làm, tăng thu nhập. Nhưng phải xác định rằng, muốn nâng cao hiệu quả đào tạo nghề thì các cơ sở đào tạo không cách nào khác là phải chú trọng đến chất lượng đào tạo và gắn với nhu cầu sử dụng lao động, có như vậy mới thu hút được nhiều LĐNT tham gia học nghề.
Mặt khác, để đề án đào tạo nghề cho LĐNT thực sự đi vào cuộc sống, đảm bảo được tính hiệu quả và bền vững lâu dài, chính quyền các cấp, các ban ngành cần vào cuộc quyết liệt hơn trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, quy hoạch, định hướng nghề đào tạo phù hợp với đặc thù phát triển sản xuất, điều kiện kinh tế của địa phương. Song song đó, cần có cơ chế chính sách riêng cho những người sau học nghề để duy trì, phát triển nghề đã được học. Đào tạo nghề cho LĐNT có vai trò quan trọng nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo, tỉ lệ sử dụng nguồn nhân lực ở nông thôn, đặc biệt là nâng lên chất lượng nguồn lao động, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi nghề nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế phù hợp để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bên cạnh, đem lại hiệu quả về kinh tế đào tạo nghề cho LĐNT còn góp phần giải quyết các vấn đề về an sinh xã hội.
CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2. Về đào tạo làm thay đổi thu nhập Mincer (1974), trong khái niệm về vốn con người, cho rằng, vốn con người phải đầu tư để tích lũy thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập. Mức vốn con người được tích lũy nhiều hay ít tương ứng với năng lực, lượng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà mỗi người nhận được từ quá trình học tập, đào tạo và lao động. Chúng thường được biểu hiện qua số năm đi học và số năm từng trải trên thị trường lao động.
Becker (1993), khẳng định không có đầu tư nào mang lại hiệu quả lớn như đầu tư vào con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Bất kỳ hoạt động nào làm tăng năng suất lao động đều được xem là đầu tư vào vốn con người. Về mặt lợi ích cá nhân, người có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao hơn có thu nhập cao hơn; người có kinh nghiệm, thâm niên công tác cao hơn có mức thu nhập cao hơn; người có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao hơn ít bị thất nghiệp hơn. Về quyết định học nghề của người lao động Borjas (2005), cho rằng, người lao động quyết định học ngành nghề gì và đến mức nào giống như đưa ra quyết định đầu tư gắn với giả thuyết cơ bản trong kinh tế học - mọi người đều tối đa hóa lợi ích.
Quyết định đầu tư vào giáo dục cũng giống như quyết định đầu tư vào vốn hữu hình, khi đó người ta phải xem xét dòng thu nhập quy về giá trị hiện tại ròng giữa các phương án khác nhau, đi học nghề hay không đi và lựa chọn giữa các ngành nghề với nhau.