CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lược khảo các công trình nghiên cứu quốc tế 1. Nghiên cứu đa quốc gia Baele và cộng sự (2007) nghiên cứu những ảnh hưởng đa dạng hóa thu nhập đến HQHĐKD và rủi ro của các ngân hàng từ 17 quốc gia Châu Âu giai đoạn 1989 – 2004. Hồi quy GMM cho thấy các ngân hàng đa dạng hoá thu nhập với tỷ lệ TNPTD cao, thì có HQHĐKD tích cực hơn.
Mặc dù vậy, đa dạng hóa các nguồn thu từ hoạt động khác nhau sẽ làm tăng rủi ro cho các NHTM. Theo Mercieca và cộng sự (2007), các NHTM nhỏ tại Châu Âu không thu được lợi ích từ đa dạng hóa thu nhập. TNPTD, thu nhập từ hoạt động giao dịch cao sẽ dẫn đến lợi nhuận của các NHTM thấp hơn, gia tăng rủi ro và làm giảm lợi nhuận điều chỉnh rủi ro. Elsas và cộng sự (2010) đánh giá ảnh hưởng của đa dạng hoá thu nhập đến HQHĐKD của 380 NHTM tại các quốc gia phát triển giai đoạn 1996-2008.
Kết quả hồi quy GMM cho rằng đa dạng hóa thu nhập giúp cải thiện HQHĐKD của các NHTM. Sanya và Wolfe (2011) nghiên cứu ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến HQHĐKD và rủi ro của NHTM. Sử dụng dữ liệu bảng gồm 226 NHTM tại 11 nền kinh tế mới nổi giai đoạn 2000-2007. Nghiên cứu tiếp cận phương pháp hồi quy xu hướng tổng quát hệ thống (Sys- GMM).
Kết quả cung cấp bằng chứng thực nghiệm đa dạng hóa TNPTD làm giảm rủi ro hoạt động và tăng cường HQHĐKD của các NHTM. Meslier và cộng sự (2014) phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến HQHĐKD của các NHTM thuộc nền kinh tế mới nổi. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 39 NHTM Philipines và một số quốc gia trong nền kinh té mới nổi giai đoạn 1999- 2005. Hồi quy xu hướng tổng quát (GMM) cho thấy các ngân hàng ở Philippines có cơ cấu TNPTD khác nhau.
Tỷ lệ của hoạt động kinh doanh trong TNPTD là tương đối cao hơn so với một NHTM trung bình của Hoa Kỳ. Thu nhập từ phí có được từ các hoạt động ngân hàng truyền thống, thu nhập từ hoạt động giao dịch ít tương quan với tăng trưởng thu nhập lãi ròng. Lợi ích đa dạng hóa cao hơn từ việc chuyển sang 8 hoạt động giao dịch thay vì chuyển sang hoạt động dựa trên thu nhập từ phí. Tóm lại, nghiên cứu này ủng hộ vai trò tích cực và quan trọng của dạng hoá thu nhập, TNPTD đối vơi HQHĐKD của các NHTM và điều chỉnh rủi ro.
Lee và cộng sự (2014) phân tích tác động của đã nghiên cứu ảnh hưởng của TNPTD đến HQHĐKD của 967 NHTM tại 22 quốc gia ở Châu Á giai đoạn 1995- 2009. Kết quả hồi quy Sys-GMM cho rằng gia tăng tỷ lệ TNPTD không chỉ làm giảm thiểu rủi ro mà nâng cao HQHĐKD của các NHTM. Sissy và cộng sự (2017) đánh giá vai trò của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro và lợi nhuận của các NHTM. Dữ liệu nghiên cứu là 320 ngân hàng tại 29 quốc gia châu Phi giai đoạn 2002-2013 và sử dụng công cụ ước tính GMM hệ thống cho kết quả là các ngân hàng ở Châu Phi thu được lợi ích tuyệt đối từ việc đa dạng hóa thu nhập khi tăng tỷ lệ TNPTD.
Nguyen (2018) nghiên cứu tác động của đa dạng hoá thu nhập đến HQHĐKD của 175 NHTM từ sáu nước ASEAN trong giai đoạn 2007–2014. Kết quả hồi quy GMM hệ thống chỉ ra rằng các ngân hàng tăng cường hoạt động đa dạng hóa thu nhập sẽ có HQHĐKD cao hơn. Ammar và Boughrara (2019) nghiên cứu tác động của đa dạng hóa thu nhập đối với hoạt động của NHTM, làm sáng tỏ tác động của sự chuyển dịch sang các nguồn TNPTD. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 275 ngân hàng từ mười bốn quốc gia MENA(Trung Đông và Bắc Phi) giai đoạn 1990–2011.
Việc ước tính mô hình bằng cách sử dụng hệ thống GMM cho thấy đa dạng hóa thu nhập, TNPTD sẽ cải thiện HQHĐKD của ngân hàng. Thu nhập từ hoạt động giao dịch là thành phần TNPTD đóng góp nhiều nhất vào việc thúc đẩy lợi nhuận và sự ổn định của các NHTM. Tuy nhiên, gia tăng tỷ lệ TNPTD làm tăng rủi ro hoạt động của các NHTM. Nghiên cứu đối với từng quốc gia phát triển Stiroh (2004b) nghiên cứu chiến lược đa dạng hoá thu nhập của các NHTM tại Mỹ giai đoạn 1984 – 2001, cho rằng đa dạng hóa thu nhập ít mang lại lợi ích cho các NHTM đang cố gắng chuyển đổi thu nhập hướng tới TNPTD.
DeYoung và Rice (2004) nhận định rằng mặc dù đa dạng hóa thu nhập thúc đẩy tăng lợi nhuận, đồng thời làm gia tăng sự biến động của thu nhập và rủi ro của các NHTM tại Mỹ. 9 Delpachitra và Lester (2013) nghiên cứu hoạt động đa dạng hoá và HQHĐKD của NHTM ở Úc. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 09 NHTM niêm yết giai đoạn 2000- 2009. Kết quả hồi quy SYS-GMM cho thấy rằng đa dạng hóa thu nhập tác động tiêu cực đến HQHĐKD và không giúp cải thiện rủi ro hoạt động.
Việc gia tăng tỷ lệ TNPTD sẽ không mang lại lợi ích cho các NHTM. Brighi và Venturelli (2014) nghiên cứu đa dạng hoá thu nhập của 52 Ngân hàng tại Ý trong giai đoạn 2006-2011. Kết quả hồi quy GMM cho thấy đa dạng hóa thu nhập làm tăng hiệu quả sinh lời điều chỉnh rủi ro của các NHTM. Köhler (2014) nghiên cứu vai trò của TNPTD đối với HQHĐKD của 1893 ngân hàng (ngân hàng thương mai, ngân hàng hợp tác, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng đầu tư) tại Đức giai đoạn 2002-2012.
Hồi quy theo phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu 2 giai đoạn (2-SLS) chỉ ra rằng tác động của TNPTD đối với HQHĐKD và rủi ro ngân hàng là khác nhau giữa các ngân hàng định hướng đầu tư và bán lẻ. Trong khi các ngân hàng định hướng bán lẻ như tiết kiệm, hợp tác xã và các ngân hàng khác trở nên ổn định hơn đáng kể (nghĩa là có điểm Z cao hơn) nếu họ tăng tỷ lệ TNPTD; tuy nhiên, TNPTD sẽ làm cho các ngân hàng định hướng đầu tư trở nên rủi ro hơn đáng kể. Tỷ lệ TNPTD tác động tích cực đến HQHĐKD đã điều chỉnh rủi ro của các NHTM. Park và cộng sự (2019) đánh giá vai trò của TNPTD đến rủi ro và HQHĐKD của các NHTM tại Mỹ trong cuộc khủng hoảng tài chính giai đoạn 2007-2009.
Kết quả hồi quy GMM cho thấy tỷ lệ TNPTD có tác động tích cực đối với rủi ro ngân hàng và lợi nhuận trong giai đoạn khủng hoảng 1. Nghiên cứu đối với từng quốc gia đang phát triển Berger và cộng sự (2010) nghiên cứu tác động của đa dạng hóa đối với HQHĐKD của ngân hàng bằng cách sử dụng dữ liệu của 88 NHTM ở Trung Quốc trong giai đoạn 1996–2006. Kết quả hồi quy GMM cho thấy đa dạng hoá tài sản, đa dạng hoá thu nhập làm giảm HQHĐKD. Các ngân hàng có sở hữu nước ngoài gặp ít bất lợi hơn về đa dạng hóa.
Phân tích này có thể cung cấp ý nghĩa quan trọng cho các nhà quản lý và điều hành ngân hàng ở Trung Quốc cũng như ở các nền kinh tế mới nổi khác. 10 Pennathur và cộng sự (2012) phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đối với mối quan hệ đa dạng hóa thu nhập và HQHĐKD của các ngân hàng tại Ấn Độ. Các ngân hàng tại các nền kinh tế mới nổi có được nhiều lợi ích từ hoạt động đa dạng hóa thu nhập. Các ngân hàng khu vực công và NHTM tư nhân có các chiến lược đa dạng hóa khác nhau, điều này tạo ra những ảnh hưởng khác nhau đến HQHĐKD của ngân hàng.
Đa dạng hoá thu nhập làm gia tăng thu nhập lãi thuần, TNPTD cũng như tỷ lệ thu nhập từ giao dịch và tác động tích cực đến HQHĐKD và làm gia tăng rủi ro của các NHTM tư nhân và nước ngoài. Đa dạng hóa các hoạt động thu phí và giao dịch làm giảm sự biến động HQHĐKD của các NHTM khu vực công. Li và Zhang (2013) đánh giá những lợi ích tiềm năng của đa dạng hóa do sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào các hoạt động kinh doanh phi truyền thống dựa trên dữ liệu từ ngành ngân hàng Trung Quốc giai đoạn 1986–2008. Hồi quy GMM cho thấy rằng có lợi ích đa dạng hóa khi tăng TNPTD nhưng cũng đồng thời có thể gia tăng rủi ro hệ thống.
Belguith và Bellouma (2017) đã nghiên cứu vai trò của cấu trúc thu nhập hoạt động đối với HQHĐKD của các NHTM tai Tunisia giai đoạn 2001-2014. Kêt quả hồi quy 2-SLS thấy rằng chuyển đổi cấu trúc thu nhập từ thu nhập lãi thuần sang TNPTD sẽ thúc đẩy lợi nhuận và sự ổn định của các NHTM và ích từ đa dạng hóa là lớn nhất đối với các NHTM có nhiều chuyển dịch sang TNPTD. Ahamed (2017) nghiên cứu trả lời câu hỏi liệu sự thay đổi đối với hoạt động TNPTD có cải thiện HQHĐKD của các ngân hàng Ấn Độ giai đoạn 1998-2014. Nghiên cứu cho rằng tỷ lệ TNPTD cao thì HQHĐKD điều chỉnh rủi ro cao hơn.
Các NHTM tư nhân nước ngoài đạt được lợi nhuận đã điều chỉnh rủi ro cao hơn so với các NHTM khu vực công và NHTM tư nhân nội địa. Sun và cộng sự (2017) cho rằng TNPTD là điều mà hầu hết các ngân hàng Trung Quốc đang phấn đấu trong những năm gần đây do sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM do thị trường ngày càng mở và quy định cứng rắn từ ngân hàng trung ương Trung Quốc. Mô hình ngưỡng bảng được sử dụng với tập dữ liệu bảng cân bằng của 16 NHTM Trung Quốc niêm yết, trong giai đoạn 2007 đến 2013, để điều tra mối quan hệ giữa TNPTD và HQHĐKD. Kết quả cho thấy hai kết luận chính: (1) sự tồn 11 tại của hai ngưỡng cho thấy có mối quan hệ phi tuyến; (2) có mối tương quan nghịch giữa tỷ lệ TNPTD và HQHĐKD của các NHTM.
Hơn nữa, khi tỷ lệ TNPTD cao hơn ngưỡng 16.62%, mối tương quan nghịch giảm. Tỷ lệ này nên được kiểm soát ở ngưỡng cao hơn, kỳ vọng tỷ lệ TNPTD ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM. Liang và cộng sự (2018) nghiên cứu vai trò của đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng bằng cách sử dụng dữ liệu các NHTM tại Trung Quốc giai đoạn 2003–2012. Kết quả nghiên cứu cho rằng đa dạng thu nhập ảnh hưởng tiêu cực đến HQHĐKD của các ngân hàng.
Quản trị doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng tăng cường mối quan hệ giữa đa dạng hoá thu nhập và HQHĐKD của các NHTM tại Trung Quốc. Noor và Siddiqui (2019) lấp đầy khoảng trống về sự tồn tại của mối quan hệ phi tuyến tính giữa TNPTD và HQHĐKD của các NHTM ở Pakistan.